![]()
Dọc bờ biển nước ta có rất nhiều địa danh Dinh, giống như miền núi phía Tây có rất nhiều địa danh Sơn vậy. Miên Trung từ Bình Định đến Vũng Tàu có rất nhiều sông Dinh và phía Bắc có Hải Phòng là nơi có địa danh Dinh.
Dinh có nghĩa là gì ?
Dinh : cái nhà lớn của đại gia đình có vai vế trong xã hội
– Dinh thự
– Dinh cơ
– Tư dinh
Ví dụ : dinh Thày Thím Bình Thuận
Dinh : cái nhà lớn vừa là nơi ở vừa là nơi làm việc của người đứng đầu một vùng nằm dưới quyền của vua chúa hay tương đương
– Dinh trấn thủ
– Dinh tổng đốc
– Dinh công sứ
– Dinh toàn quyền
Các ví dụ
– Dinh Độc Lập, Tp HCM
– Dinh Gia Long, Tp HCM : đã từng có tên là dinh Phó soái (trụ sở và nơi ở của phó toàn quyền Pháp), dinh Khâm Sai (làm việc cho vua Bảo Đại), dinh Thống đốc, dinh Thủ hiến (Ngô Đình Diệm)
– Dinh Bảo Đại là một danh từ thường thấy của người Việt Nam dùng để chỉ các dinh thự được Bảo Đại sử dụng làm nơi làm việc, nghỉ ngơi trong thời gian ông làm Hoàng đế Đại Nam rồi Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam. Các dinh thự này đều có kiến trúc kiểu Pháp rất hài hòa, nằm rải rác tại các điểm danh thắng của Việt Nam. Hầu hết chúng hiện nay đều được sử dụng làm điểm tham quan du lịch. Một số dinh Bảo Đại được biết đến nhiều nhất.
– – – Dinh I là một dinh thự tại Đà Lạt, được Bảo Đại sử dụng từ 1949 đến 1954, để làm Văn phòng làm việc của Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam.
– – – Dinh II, còn gọi là Dinh Toàn quyền, về danh nghĩa thuộc sở hữu của Bảo Đại từ 1949 đến 1954, tuy nhiên ông rất ít khi lưu trú tại đây.
Dinh III, còn gọi là Biệt điện Quốc trưởng, là một dinh thự tại Đà Lạt, được Bảo Đại sử dụng từ 1938 đến 1954, dùng làm nơi nghỉ ngơi mùa hè cho gia đình và nơi làm việc trong thời gian ông làm Hoàng đế Đại Nam rồi Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam.
– – – Bạch Dinh là một dinh thự tại Vũng Tàu, được Bảo Đại sử dụng từ 1926 đến 1954, dùng làm nơi nghỉ mát cho gia đình trong thời gian ông làm Hoàng đế Đại Nam rồi Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam.
– – – Biệt thự Cầu Đá, còn gọi là Lầu Bảo Đại, là một biệt thự nằm trong cụm 5 biệt thự tại Nha Trang, được Bảo Đại sử dụng từ 1940 đến 1945, dùng làm nơi nghỉ mát cho gia đình trong thời gian ông làm Hoàng đế Đại Nam.
– – – Biệt điện Bảo Đại là một cụm biệt thự tại Buôn Ma Thuột, được Bảo Đại sử dụng từ 1950 đến 1954, dùng làm nơi nghỉ dưỡng cho gia đình trong thời gian ông làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam.
– – – Biệt thự Hồ Lăk, cũng có tên là Biệt điện Bảo Đại, là một biệt điện cạnh Hồ Lăk, được Bảo Đại sử dụng từ 1949 đến 1954, dùng làm nơi nghỉ dưỡng ngắm cảnh, săn bắn, cho gia đình trong thời gian ông làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam.
– – – Biệt thự Bảo Đại là một biệt thự tại Đồ Sơn, được Bảo Đại sử dụng từ 1933 đến 1954, dùng làm nơi nghỉ dưỡng cho gia đình trong thời gian ông làm Hoàng đế Đại Nam rồi Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam.
Ngựa ô anh thắng kiệu vàng
Anh tra khớp bạc đưa nàng về dinh
Gió đưa ông đội về dinh
Bà đội thương tình xách nón chạy theo
Ông đội thì cưỡi con heo
Bà đội thì cưỡi con mèo cụt đuôi
Dinh : Doanh (nơi ở và đóng quân của lính)
– Dinh trại : Doanh trại (quân lính, quân đội)
– Dinh trấn : Doanh trấn
Dinh : Doanh (nơi ở và buôn bán)
– Dinh : cơ sở kinh tế
– Dinh : Doanh thị (chợ)
– Dinh nhân : Doanh nhân
Dinh : Phố
Dinh : tên một loạt sông Cái của người Chăm miền Trung Nam Bộ
– Sông Dinh hay sông Cái Phan Rang : Trong suốt lịch sử của vùng Panduranga, Sông Dinh (người Chăm gọi là Kraung Ding, có nghĩa là “sông phố”) luôn được xem là một nguồn nước quan trọng có ảnh hưởng đến quá trình phát triển của người Chăm ở tiểu quốc này, vì thế mà bên cạnh Kraung Ding, tên con sông còn được gọi là Panduranga, sau này người Việt phiên âm ra thành Sông Phan Rang. Năm 1471, sau những chiến dịch chinh phạt Chiêm Thành của vua Lê Thánh Tông, người Chăm mất 4/5 lãnh thổ của mình vào tay Đế chế Đại Việt, họ chỉ còn giữ lại vùng Kauthara và Panduranga, trung tâm chính trị của người Chăm được chuyển về Băl Cau thuộc vùng Phan Rang, cạnh sông Dinh ngày nay. Năm 1653, Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần sai Cai cơ Hùng Lộc dẫn 3.000 quân đánh sang đất Chiêm Thành, vua Chiêm Po Nraup sai con là Xác Bà Ân dâng thư xin hàng. Chúa Nguyễn ưng thuận cho lấy sông Phan Rang làm ranh giới giữa 2 nước. Lãnh thổ phía Nam sông Phan Rang vẫn thuộc về các chúa Chiêm người Chăm. Sông Dinh/Phan Rang trở thành biên giới giữa 2 quốc gia trong 137 năm, đến năm 1832 vua Minh Mạng cho xoá bỏ Thuận Thành trấn, người Chăm mất toàn bộ quyền tự trị của mình thì sông Dinh/Phan Rang mới không còn là biên giới tự nhiên giữa 2 nước. Ngày nay, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm có 3 phường có địa phận nằm ở bờ phía nam của sông đó là: Bảo An, Đạo Long và Đông Hải.
– – – Mũi Dinh
– – – Làng Phước Dinh
– – – Cầu Dinh
– Sông Dinh, còn gọi là Sông Cái Ninh Hòa, là một con sông quan trọng chảy qua thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, đổ ra biển Nha Phu. Con sông này có tên khác là sông Cái Ninh Hòa, Sông Vĩnh Phú, Sông Dinh. Nguồn gốc tên gọi: Tên “Sông Dinh” xuất phát từ việc dinh trấn thủ xưa kia nằm cạnh sông. Có nhiều nguồn đổ vào, Là tuyến sông nội địa huyết mạch, thường chịu ảnh hưởng lớn của lũ lụt, gây ngập lụt nghiêm trọng cho khu vực.
– Sông Dinh là một con sông tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sông được bắt nguồn từ hồ Kim Long, xã Kim Long, huyện Châu Đức, chảy theo hướng bắc nam, trên đường có các con suối từ các thị xã Phú Mỹ, huyện Châu Đức đổ vào. Sông chảy qua thành phố Bà Rịa và đổ ra vịnh Gành Rái tại thành phố Vũng Tàu. Sông có chiều dài khoảng 40 km, đoạn thượng nguồn làm ranh giới tự nhiên giữa hai thị xã Phú Mỹ và huyện Châu Đức, đoạn hạ nguồn tại thành phố Vũng Tàu, lòng sông sộng có nhiều cảng biển hoạt động, trong đó có cảng lớn là cảng Cát Lở.
– Sông Dinh là một con sông nhỏ tại tỉnh Bình Thuận. Sông Dinh dài 57 km, lưu vực 904 km².
Sông Dinh ai bới, ai đào
Để cho ngọn nước chảy vào vòng cung?
Nước nào ngon bằng nước sông Dinh
Trà Ô Long đủ vị, súc bình còn thơm
Cũng vì ngọn nước sông Dinh
Nay trừng mai rặc, điệu chung tình nổi trôi
Ra đi có đệ có huynh
Cầu Sông Ba có gãy, cầu sông Dinh bắt liền
Dinh : Cầu Dinh, phà Dinh
– Cầu Dinh qua sông Kinh Thày, trước đó là phà Dinh
– Cầu Dinh Ông qua sông Ba Phú Yên
– Cầu Dinh qua các con sông Dinh của Nha trang, Phan rang, Bình thuận và Vũng tàu
Dinh : Chợ Dinh hay dinh thị là chợ cực lớn ở nơi trung tâm, chợ phiên, chợ đầu mối, chợ bán buôn
– Chợ Dinh, Bình Định
– Chợ Dinh, Huế : Chợ Dinh Còn gọi là chợ Dinh Ông, một cái chợ ở đường Chi Lăng, phường Phú Hiệp, thành phố Huế. Chợ được gọi như thế vì lúc trước vùng này có nhiều dinh thự các ông hoàng, bà chúa hay quan lớn.
– Chợ Dinh Xuân
Đố anh con rết mấy chân,
Cầu ô mấy nhịp, chợ Dinh mấy người
Chợ Dinh bán nón quan hai,
Bán tua quan mốt, bộ quai năm tiền,
Năm tiền một giạ đỗ xanh,
Một cân đường cát, đưa anh lên đường.
– Thôi thôi đường cát làm chi
Đỗ xanh làm gì, có ngãi thì thôi.
Chợ Dinh bán nón quan hai
Bộ tua quan mốt, bộ quai năm tiền
Muốn ăn đi xuống
Muốn uống đi lên
Dạo khắp bốn bên
Chợ Thành, chợ Giã
Chợ Dinh bán chả
Chợ Huyện bán nem
– Đố eng con tít mấy chân
Núi Đầu Mâu mấy trượng chợ Dinh Xuân mấy ngài
– Em ơi con tít trăm chân,
Núi Đầu Mâu ngàn trượng, chợ Dinh Xuân vạn ngài.
Ru em em théc cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim
Bồng em mà bỏ vô nôi
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán nón quan hai
Bán thao quan mốt, bán quai năm tiền
Ngó lên hòn tháp Chợ Dinh
Biết ai còn tưởng nghĩa mình hay không?
Ru em em théc cho muồi
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán áo con trai
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim
Bồng em mà bỏ vô nôi
Cho mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu
Mua vôi chợ Quán chợ Cầu
Mua cau Nam Phổ mua trầu chợ Dinh
Chợ Dinh bán nón quan hai
Bán thao quan mốt, bán quai năm tiền
Dinh : Kinh trong nghĩa kinh rạch, kinh mạch, kinh lạc, kinh thư, kinh sách, kinh Phật, kinh Thánh …
– Cầu Dinh và phà Dinh bắc qua sông Kinh Môn, Kinh Thày Hải Phòng là theo nghĩa này, vì sông tên là Kinh cho nên cầu phà qua sông có tên là Dinh. Điều này cho thấy Kinh là phương dọc thì Dinh là phương ngang
– Các sông Dinh hay sông Cái miền Trung Nam Bộ (Nam Hà hay Đàng Trong) đều là sông chảy ngang, khác với mạch sông Kinh, sông Cái của phương Bắc (Bắc Hà hay Đàng Ngoài) là sông dọc. Mạch Kinh là mạch sông Hồng với ngã ba Bạch Hạc là nơi Kinh Dương Vương gặp bà Tiên Cát, cũng là bà Tiên Cát hóa và là nơi vua Hùng Vương 18 tuyển rể. Mạch Kinh từ Bạch Hạc chảy theo sông Hồng và theo sông Đuống sông Dâu sông Thiên Đức cổ nơi có mộ của Kinh Dương Vương rồi chạy đến Lục Đầu Giang ra cửa biển Bạch Đằng theo mạch sông Kinh Môn, Kinh Thày.
– Điều này cho thấy sông Dinh cũng là các sông Kinh, sông Cái nơi hình thành kinh đô của người Chăm, như sông Kinh hay là huyết mạch của người Kinh. Điều này liên quan đến cách nói chăm chỉ của người Việt, nghĩa là một dòng chảy Chăm.
Dinh : Mũi đất, mỏm đất
– Mũi Dinh
Dinh : Vùng đất
– Dinh Phong
Dinh : Núi
– Núi Dinh Bà Rịa Vũng Tàu : Núi nằm về phía tây bắc Thành phố Bà Rịa khoảng 2 km, từ Quốc lộ 51 hướng về Tp.HCM rẽ phải khoảng 2,5 km.[4] Núi thuộc địa phận thị xã Phú Mỹ và thành phố Bà Rịa, cụ thể thuộc địa bàn các phường Tân Hải, Tân Hòa, xã Châu Pha, phường Phước Hòa (thành phố Phú Mỹ) và một phần phường Long Hương (Thành phố Bà Rịa). Có nhiều lý giải tên núi. Có lý giải tên núi đặt theo tên người đàn ông là Nguyễn Văn Dinh để tưởng nhớ công lao khai phá vùng đất này. Lý giải khác là vào thời nhà Nguyễn, chưởng cơ Yên Thành Hầu từ Phú Yên dẫn quân về đây đóng dinh trại, nên núi được gọi là núi Dinh. Lý giải về tên núi Ông Trịnh, theo sách Đại Nam nhất thống chí, ông Trịnh là người ở của bà Vải, một phụ nữ giàu có. Hai người họ có tình ý nhưng không đến được với nhau, có thể do không môn đăng hộ đối. Một thời gian sau dân trong vùng phát hiện xác hai người chết ở hai nơi mà không rõ nguyên nhân. Từ hai nơi đó mọc lên hai ngọn núi cạnh nhau, nên dân trong vùng đặt tên hai ngọn núi theo tên của họ, núi Ông Trịnh và núi Thị Vải.
Tháng ba cơm gói ra Hòn
Muốn ăn trứng nhạn phải lòn hang Mai
Mặc tình ai dễ ép ai
Muốn ăn trứng nhạn hang Mai phải lòn
– Hang Mai anh cũng muốn lòn
Sợ rằng trứng nhạn hãy còn vỏ không
Dinh (động từ) : đưa về dinh, rinh
– Dinh về : đưa về, mang về, rước về dinh

