AI LÀ DÂN MAN, DÂN MÁN, DÂN MÃN ?

Loading

NGƯỜI MAN LÀ AI ?
MAN (sắc tộc) : Người Man nghĩa là “người man rợ phương Nam” là thuật ngữ hàm ý miệt thị trong lịch sử của người phương Bắc, sống ở đô thị tập trung để chỉ cộng đồng người làm nông sống rải rác ở phía Nam.
– Người Man di : Vùng đất khởi phát của người Trung Quốc là vùng Hoa Hạ (華夏), người Hoa (người tinh hoa) coi Trung Quốc là “nước ở trung tâm” đã có giáo hóa văn minh, còn xung quanh là bốn phương “man di mọi rợ”, gọi là Tứ di. Người ở phương Đông gọi là Đông Di, phương Tây gọi là Tây Nhung, phương Nam gọi là Nam Man, và phương Bắc gọi là Bắc Địch. Man Di Nhung Địch là cách gọi đầy khinh miệt của người Hán đối với các dân tộc khác bên ngoài họ. Trong đó các chữ tượng hình chỉ các nhóm này đều có phần biểu thị “sâu bọ thú vật”. Ngày nay chữ Hán đã lược bỏ phần biểu tượng này đi, nên trong các chữ Hán dẫn ra ở trên chỉ còn có ở chữ Địch (狄) và Man (蠻).
– Người Nam Man :
– – – Với người Trung Quốc, người Nam Man chính là người Bách Việt. Xung đột lớn và kéo dài của người Hoa với Nam Man là xung đột giữa nhà Thương và đất nước Văn Lang (thế kỉ 16 TCN), xung đột giữa nhà Hán với Nam Việt vương quốc hùng mạnh ở phía nam sông Trường Giang vào thế kỷ 3 trước Công nguyên do người Bách Việt dẫn đầu. Người Hoa đã chinh phục, đồng hóa thành công người Bách Việt, và đẩy dần người Bách Việt về phương nam. Trong thời kỳ Tam Quốc, người Miêu dưới sự lãnh đạo của Mạnh Hoạch đã nhiều lần nổi lên chống lại Thục Hán, sau khi Mạnh Hoạch bị Gia Cát Lượng bắt và thả 7 lần đã quy phục Thục Hán. Nam Chiếu thường xuyên cống nộp thông qua Kiếm Nam Tiết độ sứ. Trong thời nhà Đường, người Miêu (Hmong) ở khu vực tây nam cùng với người Bạch và người Di (người Lô Lô) lập ra Mông Xá Chiếu (蒙舍詔) hay Nam Chiếu (南詔), đã thống nhất Lục Chiếu và thành lập nhà nước độc lập đầu tiên đầu thế kỷ 6. Khi nhà Đường dần suy yếu, Nam Chiếu, sau là Vương quốc Đại Lý, giành được độc lập nhiều hơn. Tuy nhiên năm 1253 vương quốc bị Nhà Nguyên chinh phục và đồng hóa. Trong khi đó, một số ảnh hưởng của nền văn hóa Nam Chiếu tiếp tục được truyền xuống phía Nam.
– – – Ở Việt Nam, các vương triều cũng dùng từ Nam Man hoặc man di để chỉ các dân tộc Chiêm Thành, Khmer, Mã Lai, Java, các sắc dân thiểu số ở vùng Tây Nguyên.
MAN : thanh âm, giai điệu
– Man điệu : Man điệu chỉ điệu nhạc, điệu múa của dân tộc thiểu số ở miền núi. “Khèn lên man điệu nàng e ấp” (Tây Tiến, Quang Dũng).
MAN (tính từ)
– Man rợ
– Man dại
MAN (tính từ)
– Dã man
MAN
– Man mát : man (bộ thủy – nước) nghĩa là “dáng nước mênh mông”.
MAN
– Man trá
MAN (tính từ)
– Mê man : vận hành nửa thức nửa ngủ dựa trên chồng chập trạng thái thức ngủ, chồng chập không gian, thời gian
– Lan man : vận hành mở rộng và phát triển dựa trên chồng chập các chu kỳ và các phương hướng
– Miên man : một luồng vận hành chồng chập, tiếp nối không dứt, chưa hết cái này đã đến cái kia, chưa hết chuyện này đã tới chuyện nọ, ví dụ tiếng chim líu lo, tiếng nọ dính tiếng kia, không dứt
MAN (số đếm)
– Man : vạn (mười nghìn)
– Man : vạn/muôn (mãn : vạn/muộn).
– Cơ man : ức vạn
– Một man
MAN (trạng từ)
– Khai man
MAN :
– Họ Man, tập trung chủ yếu ở tỉnh Bắc Ninh
– Man tộc
Man : Địa danh
– Man Xá
Nhân vật tên Man
– Phật tổ Man Nương, sinh ra Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện)
– Man Thiện, mẹ của Hai Bà Trưng
– Lý Phục Man : Lý Phục Man (? – 547) là một danh tướng nổi tiếng thời vua Lý Nam Đế (thế kỷ 6). Ông được tôn xưng là “Phục Man Tướng Quân” do có công thu phục các bộ tộc người Man ở vùng Đỗ Động – Đường Lâm. Ông cũng giúp vua đánh tan giặc Lâm Ấp và giữ vững biên giới phía Nam. Quê quán của ông là tại làng Cổ Sở (sau này là làng Giá, bao gồm các xã Yên Sở, Đắc Sở, Yên Thái thuộc huyện Hoài Đức, Hà Nội ngày nay). Ông được vua tin tưởng gả con gái và cho phép mang họ Lý (theo một số dã sử). Ông ky sinh trong trận chiến với giặc Lương tại thành Tô Lịch vào năm Giáp Tý (544) (có tài liệu ghi năm 547). Ông được nhân dân nhiều nơi dọc sông Đáy thờ làm thành hoàng (làng Giàn, làng Giá, Dương Liễu, v.v.). Lễ hội Quán Giá (Yên Sở) được tổ chức hàng năm vào mùng 10 tháng 3 âm lịch để tưởng nhớ công ơn của ông. Danh tiếng của ông chủ yếu được ghi chép trong các tài liệu dã sử như “Việt điện u linh tập”, “Lĩnh Nam Chích Quái” và thần tích tại các đền thờ, hơn là trong các bộ chính sử xưa.
Giặc Miên kéo đến Lò Gò
An Nam còn ngáy khò kho trong mùng
Giặc Xiêm xuống tới Chưng Đùng
An Nam mới chịu dỡ mùng chun ra
Bớ này trai tráng làng ta
Đuổi Miên, Man như đuổi con gà bươi rau.
Giặc Miên, là giặc Cao Miên hay giặc Campuchia, phiên âm sang tiếng Việt của từ “Khmer,” chỉ dân tộc Khơ Me. Cao Miên còn là cách người Việt gọi nước Campuchia, với cư dân chủ yếu là người Khơ Me.
Lò Gò : Lò Gò Một địa danh nằm gần biên giới Việt Nam – Campuchia, nay thuộc tỉnh Tây Ninh.
An Nam : Tên gọi của nước ta trong một số giai đoạn lịch sử. Tiêu biểu nhất có lẽ là dưới thời kì đô hộ của thực dân Pháp, khi nước ta bị chia thành ba kỳ.
Xiêm là tên gọi trước đây của nước Thái Lan, cũng gọi là Xiêm La. Xiêm la cũng có nghĩa là con ngan hay con vịt xiêm. Gà đòi ấp vịt lấy công/Xiêm la không chịu vì lòng thương con
Chưng Đùng hay Chân Đùng, một địa danh nay thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Tên gọi Chưng Đùng được hình thành là do cách phát âm trại của miền Nam mà ra.
—o—
NGƯỜI MÃN
Mãn : Người Mãn, người Mãn Thanh
Mãn : kết thúc kỳ hạn, chu kỳ, chuyển sang kỳ hạn mới chu kỳ mới, đặc biệt liên quan đến sinh tử
– mãn hạn
– mãn kinh
– mãn tang
– mãn nguyệt khai hoa
– mãn kiếp
– Mãn khóa: hết khóa học/nhiệm kỳ.
– Mãn đường: đầy nhà
Mãn (nội trạng thái) : Sự đủ đầy chồng chập cả không thời gian, chu kỳ và cấu trúc, âm và hình, vị và mùi
– mỹ mãn
– viên mãn
– xung mãn
Mãn (trạng thái với cái bên ngoài, với ngoại cảnh)
– mãn nguyện
– mãn nhãn: nhìn thỏa thích
Man : mãn tính
Mãn : vãn (man : vạn)
Mãn mùa nón cũ rã vành
Mượn tiền người nghĩa mua nón lành đội chơi
Em cấy mãn mùa, khăn em cũ, nón rã vành,
Anh có tiền dư cho em mượn đỡ, mua khăn nón lành đội chơi
Bác mẹ sinh ra đá mấy hòn
Ôm ấp đêm ngày dạ héo hon
Mãn nguyệt khai hoa từ vỏ đá
Con con, mẹ mẹ mới vuông tròn
Là gì?
Mãn
– Mãn Xá, Thuận Thành, Bắc Ninh
—o—
NGƯỜI MÁN
Mán :
– Người Mán (người Dao) là cách gọi cũ (thường mang tính miệt thị trước đây) dành cho dân tộc Dao, đặc biệt là người Dao quần chẹt, sống ở vùng núi phía Bắc.
– Tiếng Mán
Mán
– Lợn mán
Mán
– Mường mán
—o—
MÀN
Màn (danh từ)
– Màn, mùng
– Buông màn, mắc màn, gấp màn, giăng màn, hạ màn
– Vải màn, cọc màn
– Chăn màn …
Màn trời chiếu đất
Màn (địa danh)
– Núi Giăng Màn : khu vực này có người Lào
—o—
NGƯỜI MẠN
Mạn : miền
– Mạn xuôi
– Mạn ngược
Mạn : đầy, dài, xa
– mạn sơn biến dã : đầy núi khắp đồng
Mạn
– Mạn phép
– Mạn đàm: Chuyện phiếm, nói chuyện không chủ đề
– Mạn họa: Tranh biếm họa
Mạn (trạng thái nội tâm)
– Tản mạn: Rải rác, không tập trung
– Lãng mạn: Bay bổng, phóng túng
Mạn (thái độ với bên ngoài)
– Ngạo mạn: Kiêu ngạo, coi thường người khác
– Khinh mạn: Khinh nhờn, thái độ không tôn trọng
Man : Mạn tính
Mạn (tính từ)
– Chè mạn : Có thể hiểu đơn giản thì chè mạn là tất cả những loại chè phơi hoặc sấy khô không ướp thêm bất cứ một thứ hương khác nào, nói cách khác là trà làm khô nhưng vẫn giữ hương vị tự nhiên. Cùng với trà tươi và trà hương, đây là một trong ba đại diện tiêu biểu của trà Việt.
—o—
MẢN
Chia sẻ:
Scroll to Top