![]()
TÍNH LINH CỦA TRUYỆN KIỀU
Một ngày tôi đi một ngôi đền ở khu phố cổ, mà giờ đã bị thu hẹp nằm trong trong nhà một hộ dân và được gia đình này chăm lo hương khói. Nghe nói rằng xưa có một lễ rước nước lớn ở khu vực cửa sông Tô Lịch, xuất phát từ đền Bạch Mã (trấn Đông Thăng Long) đi qua nhiều ngôi đền thiêng của phố cổ rồi quay về đền Bạch Mã, tôi cố gắng thiết lập lại lộ trình của lễ rước đã mất này bằng cách đi qua các ngôi đền theo thứ tự được nêu, trong đó có ngôi đền này. Cửa sông Tô Lịch cũ mà đã bị giặc Pháp lấp, bờ nước sông Hồng xưa giờ đã thành đường phố, vì bãi bồi đã cũng đã tiến rất xa về phía Đông, những ngôi đền nằm trong lễ rước nước này cũng cái còn cái mất.
Khi đứng ở ngôi đền này, tôi thấy cảnh bến sông Hồng ngày xưa, và ngôi nhà của Viên ngoại họ Vương thời Thúy Vân, Thúy Kiều và Vương Quan vẫn còn trẻ vui sống với nhau dưới một mái nhà. Tôi nhận được khu vực nơi diễn ra lễ rước nước này là Tiền Đường. Truyện Kiều bước vào cuộc đời tôi, theo một cách không ngờ như thế.
Tôi hiểu rằng Kiều, một số truyện Nôm cổ, Liễu Nghị truyền thư, Nam quốc Sơn hà, một số câu ca dao tục ngữ và sấm Trạng Trình … đã trường tồn trong dân tộc vì các tác phẩm này có tính linh. Nếu như sấm Trạng Trình không có tính linh thì tại sao nhiều người tin vào sấm Trạng Trình, nhiều người mơ thấy sấm Trạng Trình, nhiều bản sấm Trạng Trình đã bất ngờ tìm thấy ở một số đền chùa để trở thành hướng dẫn tinh thần và hành động của những người hữu duyên. Truyện Kiều mà không có tính linh thì tại sao có bói Kiều và làm sao tôi có thể mở duyên nghiệp của tôi với truyện Kiều lạ lùng như vậy. Nếu tôi có thể rơi vào một trạng thái mộng giữa ban ngày để bước vào khung cảnh truyện Kiều ở một ngôi đền thì chắc chắn có những người khác cũng sẽ mở truyện Kiều theo muôn vàn hoàn cảnh khác mà chỉ có họ biết mà thôi.
Tôi không thắc mắc vì sao tôi thấy nhà cha mẹ Kiều ở bến sông Hồng cổ mà không nằm ở Trung Quốc, bởi vì trong lòng tôi Kiều là người Việt và trong truyện Kiều có câu nào nói rằng Kiều là người Hán, người Hoa, người Mãn… đâu.
Tôi cũng không thắc mắc sao cửa sông Tô Lịch cổ lại là sông Tiền Đường. Bởi vì trong một hệ sinh thái, một cơ thể sống, một đất nước, luôn có Động Đình, Thái Sơn, Trung Quốc, Tiền Đường, Bắc Kinh, Nam Kinh, Bách Hội, Sơn Tây, Bắc Hà, Nam Hà … mà chính là tên gọi của thân, rốn, ối, nhau, tim, gan, đan điền, luân xa …. Kết quả, việc trùng địa danh giữa hai bờ sông Hồng hay trùng địa danh giữa các khu vực của văn minh sông Hồng, văn minh sông Hoàng Hà, văn minh sông Dương Tử là quá bình thường. Câu ca dao “Công cha như núi Thái Sơn” là của người Việt. Cha Lạc Long Quân sau là đức Động Đình Đế Quân là thủy tổ Bách Việt. Tất cả các sản phẩm làng nghề có tích tổ nghề đi sứ Trung Quốc đều là sản phẩm thuần Việt vì đố bạn tìm ra ông tổ nghề này trong danh sách quan lại triều đình nước ta được vua cử đi sứ Trung Quốc rồi rảnh quá học được nghề về dạy dân làng như tích kể mà Trung Quốc là khu vực đan điền đứng chủ về công việc và vận hành thủ công, đi về đan điền gọi là đi sứ do sứ là trạng thái điền đã được nung hay luyện trong lửa đan. Ngoài ra một địa danh cũng như một người hoàn toàn có thể có hai, thậm chí nhiều tên, trong các hệ quy chiếu khác nhau, tên này thì trùng với địa danh này, tên khác có thể trùng với địa danh khác.
BỐI CẢNH TRUYỆN KIỀU
Cổ tích thường viết rằng “ngảy xửa ngày xưa, ở vương quốc nọ…”, còn Truyện Kiều kể
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng
Có nhà viên ngoại họ Vương
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung
Trong đó
– “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh” mô tả bối cảnh thời gian của cuộc đời Kiều.
– “Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng” mô tả bối cảnh không gian của cuộc đời Kiều.
– “Có nhà viên ngoại họ Vương” mô tả bối cảnh dòng tộc của gia đình Kiều
– “Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung” mô tả gia thế địa vị của gia đình Kiều
BỔI CẢNH THỜI GIAN
“Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh” là bối cảnh thời gian xảy ra câu chuyện nàng Kiều bán thân.
Gia Tĩnh (1521–1567) là niên hiệu của hoàng đế thứ 12 nhà Minh, Minh Thế Tông. Minh Thế Tông hay Thế Tông Gia Tĩnh Hoàng đế tên thật là Chu Hậu Thông (朱厚熜), sinh ngày năm 1507, mất năm 1567, đều ở Bắc Kinh. Ông vị Hoàng đế thứ 12 của nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông cai trị tổng cộng 45 năm, từ năm 1521 tới năm 1567, tại Bắc Kinh. Ông là một trong những vị Hoàng đế Trung Quốc tại vị trên ngai vàng lâu nhất. Trong suốt thời gian trị vì, ông chỉ dùng một niên hiệu là Gia Tĩnh (嘉靖), nên chính sử cũng gọi ông là Gia Tĩnh Đế (嘉靖帝).
Năm 1527, ở Đại Việt, quyền thần Mạc Đăng Dung đã cướp ngôi nhà Lê sơ, lập ra nhà Mạc. Tuy nhiên, chính quyền của ông ta không được lòng các cựu thần nhà Lê, khiến nước Việt rơi vào nội loạn. Năm 1533, một cựu thần nhà Lê là Nguyễn Kim đưa con cháu họ Lê lên ngôi ở Lan Xang, trung hưng nhà Lê, rồi cho sứ sang Trung Quốc cầu viện nhà Minh đánh nhà Mạc. Chúa Bầu Vũ Văn Uyên đang cát cứ chống Mạc ở Tuyên Quang cũng cho người sang Yên Kinh tố cáo việc nhà Mạc cướp ngôi.
Gia Tĩnh không hoàn toàn có ý định nam chinh, nhưng vào năm 1537, ông vẫn sai tướng Mao Bá Ôn huy động binh lính ở Quảng Tây, Hồ Quảng, Phúc Kiến rồi đem quân xuống đóng gần biên giới Đại Việt. Nhằm phô trương thanh thế mà không phải đem quân sang Đại Việt, năm 1538, Gia Tĩnh lệnh cho Mao Bá Ôn một mặt phao tin sẽ đánh nhà Mạc để trừng trị tội soán vị, mặt khác gửi tối hậu thư buộc nhà Mạc phải hàng phục mình nếu muốn được tha tội. Ngày 14 tháng 5 năm 1539, phía nhà Mạc đã sai người sang dâng biểu xin hàng nhưng nhà Minh không chấp nhận. Để tránh một cuộc chiến rủi ro với Trung Quốc, ngày 3 tháng 11 âm lịch năm 1540, Mạc Đăng Dung đã đích thân đến ải Nam Quan, tự trói mình và dâng biểu, cắt đất, nộp sổ sách để xin hàng nhà Minh. Sau sự kiện này, Mao Bá Ôn cho rút quân, biên giới phía nam yên ổn trở lại.
Gia Tĩnh Đế rất coi trọng Vĩnh Lạc đại điển (永乐大典), một bộ bách khoa toàn thư biên soạn thời Vĩnh Lạc của Minh Thành Tổ, mà đã bị đốt mất, Gia Tĩnh Đế tiến hành làm bản sao để cất giữ trong cung, ghi chép lại thời kỳ Vĩnh Lạc Đế trị vì về cách thức chính trị.
Minh Thành Tổ (chữ Hán: 明成祖, 1360 – 1424), ban đầu truy tôn là Minh Thái Tông (明太宗), là hoàng đế thứ ba của nhà Minh, tại vị từ năm 1402 đến năm 1424. Ông chỉ dùng niên hiệu Vĩnh Lạc (永樂), nên còn được gọi là Vĩnh Lạc Đế (永樂帝). Ông được coi là hoàng đế kiệt xuất nhất nhà Minh, và là một trong các hoàng đế kiệt xuất nhất lịch sử Trung Quốc, được xưng tụng là Vĩnh Lạc đại đế (永樂大帝). Thời kỳ của ông được ca ngợi là Vĩnh Lạc thịnh thế (永樂盛世), đưa Đại Minh vươn tới đỉnh cao quyền lực.
Đại Việt, với tên gọi mới Đại Ngu của Hồ Quý Ly từ năm 1400, là một vấn đề hóc búa trong suốt triều đại của Minh Thành Tổ. Năm 1406, Minh Thành Tổ chính thức đáp lại các thỉnh cầu từ Trần Thiêm Bình, người xưng là dòng dõi Nhà Trần đã bị Nhà Hồ lật đổ năm 1400. Ông sai tướng Hoàng Trung đem 10 vạn quân hộ tống Trần Thiêm Bình về nước. Quân Đại Ngu chặn ở biên giới nhưng bị quân Minh đánh tan; không lâu sau, một cánh quân Đại Ngu khác đánh úp quân Minh. Hoàng Trung phải nhượng bộ xin giao nộp Trần Thiêm Bình cho nhà Hồ bắt giết để được mở đường rút quân về nước.
Để đáp lại sự sỉ nhục này, Minh Thành Tổ đã sai Trương Phụ, Mộc Thạnh đem 21 vạn quân (nói phao lên thành 80 vạn) xâm lược Đại Ngu. Quân Minh liên tiếp thắng trận, bắt được vua Hồ Hán Thương và thượng hoàng Hồ Quý Ly. Nhà Hồ hoàn toàn sụp đổ vào năm 1407 và nhà Minh chính thức giành quyền đô hộ nước Việt, mở ra thời kỳ Bắc thuộc lần 4, lần cuối cùng và lần duy nhất trong suốt 1000 năm gần đây.
Trung Quốc đã bắt đầu âm mưu đồng hóa một cách lâu dài. Vĩnh Lạc cho người đốt hết những sách vở, phá hủy những bia đá có khắc văn tự của người Việt, bắt những thợ thủ công có tay nghề cao người Việt thiến đi rồi đưa về Trung Quốc để phục dịch, lại đàn áp, tăng sưu thuế bắt người Việt phải phục dịch quân Minh.
Nhiều cuộc nổi dậy nổ ra chống lại các bộ máy cai trị của nhà Minh. Minh Thành Tổ đã điều các tướng Mộc Thạnh, Trương Phụ sang dẹp các cuộc cuộc khởi nghĩa mà lớn nhất ban đầu là phong trào của các quý tộc nhà Trần cũ là Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng. Sau khi họ Trần thất bại, vào đầu năm 1418 một cuộc nổi dậy lớn do Lê Lợi khởi xướng. Do thời gian Minh Thành Tổ qua đời đúng vào năm 1424, các lực lượng người Việt dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi đã chiếm lại gần như toàn bộ vương quốc.
Năm 1427, Minh Tuyên Tông, cháu nội Minh Thành Tổ đã từ bỏ những nỗ lực bắt đầu bởi ông nội mình và chính thức thừa nhận nền độc lập của Đại Việt với điều kiện nước Đại Việt phải chấp nhận tình trạng chư hầu và phải cống nạp người vàng tượng trưng cho tướng Liễu Thăng bị giết ở ải Chi Lăng mỗi lần đi sứ. Tuy nhiên, vai trò và thanh thế của nhà Minh trong khu vực cũng từ đó mà đi xuống, bởi sự lớn mạnh của nước Việt mới ở phương Nam đã cắt đứt ảnh hưởng của nhà Minh xuống vùng Đông Nam Á.
Vĩnh Lạc đại điển giản thể: 永乐大典; phồn thể: 永樂大典; bính âm: Yǒnglè Dàdiǎn là một bộ bách khoa toàn thư của Trung Quốc được biên soạn theo lệnh Minh Thành Tổ từ năm 1403 đến năm 1408. Đây là một trong những bộ bách khoa toàn thư đầu tiên trên thế giới và cho đến nay đây vẫn là một trong những tác phẩm đồ sộ nhất của thể loại này.
Năm Vĩnh Lạc thứ 2 (1403), Thành Tổ cho người biên soan một bộ bách khoa toàn thư, lấy tên là Vĩnh Lạc đại điển, với chủ biên là Thủ phụ đầu tiên của Nhà Minh là Giải Tấn, một học giả tài danh đương thời cùng với 147 học giả khác. Bộ sách được biên soạn với mục đích gìn giữ bảo vệ văn hóa và văn học Trung Quốc bằng chữ. Đến năm 1408, bộ sách được hoàn thành, trở thành bách khoa toàn thư đầu tiên của thế giới và là bộ sách đồ sộ nhất của thể loại này, tuy nhiên vì quá to lớn, nên bộ sách không được in ra mà chỉ có một bản duy nhất, đến nay đã gần như mất dần với thời gian.
Theo lệnh của hoàng đế Minh Thành Tổ, ban đầu khoảng 147 người làm việc dưới sự giám sát tu sửa của Nội các Đại học sĩ Giải Tấn và vào năm 1404 đã hoàn thành với tên gọi là Văn hiến tập thành. Sau khi xem xét, Minh Thành Tổ cho rằng phần lớn chưa hoàn chỉnh nên năm 1405 ông lại ra lệnh cho Thái tử Thiếu phó Diêu Quảng Hiếu, Lễ bộ Thượng thư Trịnh Tứ, Hình bộ Thị lang Lưu Quý Trì, Giải Tấn cùng trên hai nghìn học giả làm việc từ năm 1405 tới năm 1408 để tập hợp hơn 8.000 văn bản thuộc nhiều thời kỳ của lịch sử Trung Quốc. Các văn bản này đề cập tới đủ mọi lĩnh vực từ khoa học tự nhiên, khoa học xã hội cho đến nghệ thuật và tôn giáo cũng như các văn bản ghi chép lịch sử. Bộ sách được hoàn thành năm 1408 tại Nam Kinh Quốc tử giám (南京國子監) với tổng số 22.877 (hoặc 22.937) cuộn được chia thành 11.095 tập với 50 triệu chữ và chiếm thể tích khoảng 40 mét khối. Do kích cỡ quá đồ sộ nên Vĩnh Lạc đại điển chỉ có một bản duy nhất mà không được khắc in.
Tới năm 1557 thời Minh Thế Tông, bộ sách suýt bị hỏa hoạn trong Tử Cấm Thành thiêu hủy vì vậy Vĩnh Lạc đại điển được chép thêm một bản theo lệnh của hoàng đế nhà Minh. Trải qua nhiều biến loạn lịch sử, đặc biệt là sự kiện Liên quân tám nước tấn công hoàng cung nhà Thanh trong thời gian phong trào Nghĩa Hòa Đoàn, Vĩnh Lạc đại điển bị hủy hoại phần lớn và cho tới nay người ta chỉ còn lưu giữ được khoảng chưa đầy 400 tập của bộ sách này. Bộ sưu tập trọn vẹn nhất các tập Vĩnh Lạc đại điển hiện được cất giữ tại Thư viện Quốc gia Trung Quốc ở Bắc Kinh. Năm 1962, một phần của bộ sách gồm 109 tập đã được xuất bản.
Thời điểm Gia Tĩnh được chôn cất rất gần với thời điểm hoàn thành bản sao của bộ Vĩnh Lạc đại điển. Gia Tĩnh đế qua đời vào tháng 12 năm 1566 âm lịch, nhưng chỉ được chôn cất ba tháng sau đó, vào tháng 3 năm 1567. Có một khả năng là triều đình đã cố gắng đợi bản thảo được hoàn thành.
Nhà Minh khi đánh được Đại Ngu đã làm một cuộc thảm sát tôn giáo, văn hoá, phong tục, ngôn ngữ và sắc tộc của người Việt, và dán nhãn rất nhiều thứ gốc Việt là Trung Quốc, cụ thể hóa nó bằng cách cho vào Vĩnh Lạc đại điển. Sau đó, tư duy sách vở đã làm cho nhiều người lúc nào cũng bảo cái này của Trung Quốc, cái kia của Trung Quốc, mà chẳng biết gốc gác của cái họ bảo lẫn Trung Quốc hay hợp chủng quốc kia gốc là những cái gì.
Trong thời Gia Tĩnh, nhiều tác phẩm văn học lớn xuất hiện, như Tam quốc diễn nghĩa và Thủy hử.
Theo truyện Kiều, thì bản đời thực của Truyện Kiều hay chuyện nàng Kiều bán thân xảy ra trong thời Gia Tĩnh, ứng với thời Mạc, chúa Bầu, vua Lê, chúa Trịnh và chúa Nguyễn ở nước ta.
BỐI CẢNH KHÔNG GIAN
“Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng” là câu thơ mô tả bối cảnh không gian của truyện Kiều. Bối cảnh không gian này chung chung chả khác nào “ngày xửa ngày xưa, ở vương quốc nọ”, bởi vì ở đâu chả có bốn phương và rất nhiều nơi có hai kinh.
Một số người cho rằng nàng Vương Thuý Kiều có quê quán ở Bắc Kinh, bởi vì họ cho rằng hai kinh trong câu thơ của Nguyễn Du là Bắc Kinh và Nam Kinh, hai kinh đô của thời Minh. Bắc Kinh là kinh đô của Trung Quốc trong ba thời kỳ phong kiến cuối cùng, nhà Nguyên, nhà Minh (trừ hai đời đầu ở Nam Kinh) và nhà Thanh và Bắc Kinh cũng là thủ đô nước Trung Quốc bây giờ,
Sau khi cướp ngôi của cháu ruột và lên ngôi, Minh Thành Tổ muốn dời đô về phía bắc, lấy kinh đô là Bắc Bình, thủ phủ cũ của ông khi còn là Yên vương. Ý định này vấp phải nhiều sự phản đối của các đại thần, phần nhiều là do tổ huấn của vua cha Thái Tổ phải định đô ở Kim Lăng để tránh sự xâm lược từ Nhung Địch phía bắc. Sau khi được một số tướng lĩnh khuyên can rằng Kim Lăng nằm ở vị trí dễ bị công phá bởi pháo binh và không tin tưởng vào hệ thống phòng thủ của thành phố do nhìn vào tấm gương của Minh Huệ Đế (người cháu bị ông chiếm ngôi), cộng thêm tư tưởng: “Thiên tử thủ biên cương”, Vĩnh Lạc vẫn quyết định dời đô về Bắc Bình và cho đổi tên là Bắc Kinh (hay Yên Kinh). còn Kim Lăng đổi thành Nam Kinh. Nam Kinh vẫn có Lục bộ riêng và được trấn thủ bởi em vợ của hoàng đế, con trai út của đại tướng khai quốc Từ Đạt.
Ở Bắc Kinh, Minh Thành Tổ cho thực hiện một mạng lưới công trình đồ sộ, một nơi mà có thể đặt được các cơ quan chính phủ và là nơi cư trú cho các thành viên hoàng thất. Để thực hiện công trình này Minh Thành Tổ đã cho huy động hơn 10 vạn dân phu, và hoàn thành Tử Cấm thành sau 13 năm (1407-1420), trở thành thủ đô cho hai đế quốc Minh-Thanh trong 500 năm tiếp theo.
Trong khi Minh Thái Tổ muốn bản thân và con cháu được chôn ở Hiếu lăng, Nam Kinh, thì việc dời đô của Thành Tổ đã làm xuất hiện một việc cấp thiết là phải kiến tạo một lăng mộ hoàng gia mới. Sau khi được cố vấn bởi các thầy địa lý phong thủy, Minh Thành Tổ chọn một vùng đất phía bắc thành Bắc Kinh làm nơi xây dựng mộ phần của mình và các hoàng đế tiếp theo. Trong hơn 200 năm tiếp theo, 13 vị hoàng đế Nhà Minh đã được chôn cất tại đây.
Thời đại Vĩnh Lạc của Minh Thành Tổ đánh dấu việc rời kinh đô từ Nam Kinh sang Bắc Kinh, kinh đô trước đó của nhà Nguyên và kinh đô sau này của nhà Minh – Thanh. Như vậy, ba triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc Nguyên – Minh – Thanh, kéo dài hơn 500 năm, đều đóng đô của Bắc Kinh trừ hai đời đầu của nhà Minh.
Hai kinh có thể Bắc Kinh – Nam Kinh, mà cũng có thể là Kinh vua – Kinh chúa, Kinh Dương – Kinh Lạc, Kinh Việt – Kinh Chăm, hay Kinh môn – Kinh thày…. Cứ coi hai kinh là Bắc Kinh và Nam Kinh, thì Bắc Kinh vẫn có thể là Thăng Long, và Nam Kinh có thể là Lam Kinh hay Gia Định. Nếu cứ cố chấp cho rằng Bắc Kinh và Nam Kinh của Trung Quốc thời Gia Tĩnh chính là hai kinh mà Nguyễn Du nhắc đến, thì câu hỏi là hai kinh này liên quan gì đến đời Kiều ?
Thành ngữ có câu “Bốn phương tám hướng”, “Chín phương Trời, mười phương Phật”. Các hệ quy chiếu khác nhau cho số lượng phương khác hẳn nhau. Dù không biết hệ toạ độ mà Nguyễn Du dùng để khẳng định được “Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng” là gì, vẫn có thể khẳng định được vài điều
– “Bốn phương phẳng lặng” là bốn phương nước, không phải bốn phương đất
– “Hai kinh vững vàng” là hai kinh nước, không phải kinh đô, trung tâm đất,
Do đó “hai kinh vững vàng” không phải Bắc Kinh và Nam Kinh của Trung Quốc.
“Bốn phương tám hướng” có thể hiểu bằng một sơ đồ hình vuông
– Bốn đỉnh hình vuông là bốn phương
– Hai kinh là hai đường chéo, kinh cấu trúc, giao hai kinh này là kinh đô, tâm hình vuông
– Bốn hướng quy tâm thuộc về một kinh (kinh đô, hướng tâm), và bốn hướng ly tâm thuộc về một bộ kinh khác (kinh lạc, ly tâm). Đây là hai kinh vận hành.
Vậy, “bốn phương tám hướng chính” là bốn phương hai kinh.
Tuy nhiên, “bốn phương phẳng lặng” là trạng thái của nước và “hai kinh vững vàng” cũng là hai kinh nước, mà cân bằng trung dung với nhau. Cho nên cần chuyển mô hình vuông thành vòng tròn âm dương.
– Bốn phương phẳng lặng là tứ tượng cân bằng
– Hai kinh vững vàng
– – – Kinh cấu trúc : Kinh đô đen trong nửa trắng, kinh đô trắng trong nửa đen
– – – Kinh vận hành : Chữ S giữa nửa đen và trắng và Chu vi bao hai nửa đen trắng
DÒNG HỌ VƯƠNG CỦA THUÝ KIỀU
“Có nhà viên ngoại họ Vương” mô tả bối cảnh dòng tộc của gia đình Kiều
Thuý Kiều có tên đầy đủ là Vương Thuý Kiều, với Vương là họ cha. Có một điều thú vị là nhà viên chính là nhà bốn phương và họ Vương chính là họ hai kinh.
“Kiều” là phương chéo, nghĩa là không dọc cũng chẳng ngang. Phương chéo lại chia thành chéo dọc, chéo ngang. Tổng hợp lại vẫn là bốn phương.
“Kiều” cũng có nghĩa là hai kinh, vì ở vị trí có kiều, xuất hiện hai luồng đi chính, hay hai kinh là dòng chảy của sông và dòng vận hành qua cầu. Ca dao có câu
Cầu kiều ván mỏng gió rung
Bạn về sửa lại cho ta đi chung một cầu
hay
Bồng bồng mẹ bế con sang
Đò dọc quan cấm, đò ngang không chèo
Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy
Trong tâm thức người Việt, có vua cha Long Vương, Diêm Vương, hai vua cha đi đường hai kinh vận hành, cho nên họ mới được gọi là Vương. Hai vua cha còn lại, Ngọc Hoàng và Tản Viên đi đường kinh đô, kinh thành.
Giai đoạn cuối của thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, bên chúa Trịnh và chúa Nguyễn cùng xưng vương một lúc. Bên chúa Nguyễn, chúa Nguyễn Phúc Khoát (1714 – 1765) hay Nguyễn Thế Tông, Chúa Võ, xưng vương với hiệu là Vũ vương xưng Võ vương (1738–1765). Chúa Nguyễn Phúc Khoát cho đổi phủ (chúa) thành điện (vương), mà có tính chất vừa là nơi ở và nơi làm việc của vua và chúa. Bên chúa Trịnh, Trịnh Doanh (1720-1767) cũng là người xưng vương, với thụy hiệu là Nghị Tổ Ân vương (1740-1767). Đầu năm 1756, Trịnh Doanh có ý dời đô sang Cổ Bi, bèn cho xây dựng cung điện ở đó và đích thân ông đã đến xem xét một lần, nhưng về sau do Trịnh Doanh bận rộn việc chính sự nên việc dời đô đã không được tiến hành. Vua Lê lúc đó, Lê Hiển Tông (1717 – 1786) cũng là vị vua Lê ở ngôi lâu nhất, phối hợp được tốt nhất với chúa Trịnh. Ông có một hậu duệ đông đảo với 53 người con, gồm 30 hoàng tử, 23 hoàng nữ, trong đó có Lê Ngọc Hân lấy Quang Trung và Lê Ngọc Bình lấy Nguyễn Ánh.
BỐI CẢNH GIA THẾ CỦA KIỀU
“Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung” mô tả bối cảnh gia thế của kiều.
Có thể hiểu mỗi không thời gian, ví dụ như mỗi thời kỳ và mỗi quốc gia đều có một pháp thịnh trị, tạo nên cái thế nền cho thời kỳ đó và quốc gia đó. Các giai đoạn chuyển giao giữa các thời kỳ, giữa các triều đại hay có biến động biên giới quốc gia, đều xảy ra hiện tượng chuyển pháp. Pháp không chuyển bừa bãi mà chuyển theo quy luật, quy luật đó gọi là pháp luân.
Trong đạo, có các vị chuyển pháp luân, mà cũng là chuyển thế, ví dụ trong đạo Phật, Thích Ca là đấng chuyển pháp luân.
Nếu như dòng chúa có những ông Chúa xưng Vương thì dòng vua có những vị vua hiệu Thế tổ, Thế tông, là người có khả năng chuyển thế của một dòng truyền thừa. Bên dòng chúa Nguyễn có Nguyễn Phúc Khoát là Nguyễn Thế Tông, là người xưng vương, đổi phủ chúa thành điện. Thế Tổ Gia Long, cháu của Nguyễn Thế Tông, người cuối cùng của dòng chúa Nguyễn không bị Tây Sơn giết, đã lập nên triều đại nhà Nguyễn, nghĩa là chuyển từ chúa Nguyễn sang vua Nguyễn. Bên Trung Quốc, Gia Tĩnh Đế, hoàng đế thứ 12 nhà Minh chính là Minh Thế Tông.
Xin đọc lại cả bốn câu thơ nói về bối cảnh không thời gian và sắc tộc của truyện Kiều
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng
Có nhà viên ngoại họ Vương
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh : Gia Tĩnh triều Minh là đời của vua Minh Thế Tông, ứng với thời nhà Mạc. Đây là thời kỳ lập thế, định thế ở cả Việt Nam và Trung Quốc. Mạc cũng chính là Da/Gia. Minh nghĩa là xuyên suốt âm dương. Gia Tĩnh triều Minh là một thời kỳ xuyên suốt của cả Trung Quốc và Việt Nam, không hẳn gắn với lịch sử Trung Quốc.
Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng : Đây là thế tứ tượng. Cấu trúc trứ trụ vuông hai kinh – bốn phương – tám hướng và cấu trúc vòng tròn âm dương lưỡng nghi (đối xứng với hai kinh) – tứ tượng (đối xứng với bốn phương) – bát quái (đối xứng với tám hướng). Đây chính là bộ cấu trúc đối xứng âm dương, biểu tượng bởi cặp bánh chưng và bánh dầy Tết.
Có nhà viên ngoại họ Vương : Vương là một thế đặc biệt cân bằng giữa vua và chúa.
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung : Đây là thế quân bình trung dung, quan không quá lớn, dân không quá thường, và thế gia tư này cũng có nghĩa là tĩnh gia.
Truyện Kiều của Nguyễn Du viết về cuộc đời lênh đênh như bánh trôi của Kiều trong một thời kỳ chuyển thế của dân tộc, vào thời Mạc. “Tứ tượng trung dung cân bằng sinh bát quái”, chuyển đổi này ứng với ngã rẽ của cuộc đời của Thuý Kiều khi bán mình chuộc cha.
