BÁNH CHƯNG – BÁNH DẦY TẾT

Loading

Bánh giầy là bánh Tết của dân tộc Kinh và nhiều dân tộc khác. Môt số vùng và một số dân tộc thay bánh giầy bằng một loại bánh cơm gạo, cơm xôi giã nhuyễn tương tự.
TÊN BÁNH
Bánh giầy là một cái gối dầy, như chiếc giầy, gối cấu trúc và nhịp điệu tiếp đất của chân, trong mỗi cuộc đời, trong mỗi đầu thai, trong dòng họ, trong dân tộc, trong luân hồi, của một con người. Chiếc gối trên đầu gối vào giường, gối vào đất để đưa chúng ta nhịp điệu của giấc ngủ. Tóc là đỉnh khi thức và tóc là gốc khi ngủ nên có câu “Hàm răng mái tóc là gốc con người”. Chiếc gối dầy/giầy này để đỡ chân vật lý lúc đi cũng như lúc nghỉ nhưng không ngủ, và cũng đỡ đầu lúc chúng ta ở trạng thái tinh thần như chân truyền, trạng thái yêu đương như chân ái
Bánh chưng là chưng ra, hiện ra, hữu hình rõ ràng về cấu trúc, hình thể, và vật chất. Bánh dầy ẩn hơn, âm hơn, nhịp điệu hơn.
Bánh chưng có tính trung tâm, bánh dầy có tính chuyển tiếp, gối đầu, kế tục.
Đó cũng là lý do trong Công Nguyên lấy dương hình làm trung tâm, bánh dầy bị suy so với bánh chưng và các bước liên quan đến nhịp điệu và sự uyển chuyển trong việc làm của bánh trưng cũng bị suy so với các bước tạọ hình và định hình.
ĐỐI XỨNG ÂM DƯƠNG CỦA BÁNH CHƯNG & BÁNH DẦY
Bánh trưng là tứ trụ vuông, đại diện cho đất tích hợp nước lửa (đun bánh chưng) và được che phủ bởi cây (cây nước là lá dong và lạt, cây lửa là củi)
Về nguyên tắc, lạt buộc bánh chưng có hình chữ thập, chia bánh chưng thành các hình vuông. Khi ăn bánh chưng, thì cấu trúc bánh chưng đóng được mở ra, chia làm tám, đại diện cho hai kinh (2 đường lạt chữ thập chéo góc và 2 đường lạt chữ thập vuông góc song song với cạnh bánh chưng), bốn phương (4 góc bánh chưng), tám hướng (8 miếng bánh và 8 đường ly tâm hướng tâm).
Bánh dầy đối xứng âm dương với bánh chưng.
– Hình vuông của bánh chưng đối xứng với hình tròn của bánh dầy
– Tứ trụ vuông của bánh chưng được chuyển thành tứ tượng tròn của bánh dầy.
– Hai kinh, bốn phương, tám hướng của bánh chưng được chuyển thành lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái của bánh dầy.
Bánh dầy là vòng tròn âm dương, đại diện cho nước bao dung, tích hợp đất, khí, lửa, kim, mộc.
GIÃ BÁNH
Vòng tròn âm dương của bánh dầy vừa là vòng tròn là vòng tròn vận hành, với quá trình làm bánh, đặc biệt trong quá trình giã bánh.
Khi xôi được nấu chín và gói thành nắm, gọi là bánh xôi. Bánh xôi có tính lưỡng nghi đất nước. Cho bánh xôi vào cối giã, với chày đôi do 1 người hoặc 2 người giã. Cối tròn đóng vai trò hỗ trợ định hình cho vòng tròn âm dương. Nhịp chày đôi đập vào mặt bánh xôi tạo nên chấm đen trong nửa trắng và chấm trắng trong nền đen. Khi ổn định được nhịp giã bạn sẽ chạm được tứ tượng này. Khi bánh xôi được giả dẻo, bánh xôi dẻo được đem ra khỏi cối để nặn thành bánh dầy. Lúc này bánh dầy chuyển từ giai đoạn tứ tượng trong cối thành bát quái.
Một bánh xôi cho vào cối làm được một bánh dầy. Không nên giã nhiều xôi rồi tách ra nặn nhiều bánh, sẽ đánh mất cấu trúc tứ tượng.
Bánh dầy có nhiều cách ăn như ăn chay, ăn với giò chả. Bánh dầy cũng có nhiều cách gói như để nguyên dạng xôi bánh dẻo, chỉ nặn thêm cho tròn mịn, hoặc gói với nhân đỗ xanh mặn, nhân đỗ xanh ngọt, nhân thịt mặn …
Như vậy, việc chuyển hoá gạo chín của bánh chưng là nhờ cấu trúc chặt chẽ và kỹ thuật luộc, còn việc chuyển hoá gạo chín của bánh dầy là nhớ vận hành nhịp nhàng của chày giã, nhờ tiếp xúc da thịt, nhờ ma sát. Vậy điều quan trọng làm nên bánh dầy chính là nhịp giã âm dương, mà chính là quá trình làm chín gạo lần thứ hai.
Bộ bánh chưng và bánh dầy là cặp âm dương chung gốc, như Trưng Trắc và Trưng Nhị. Trước khi gieo mình xuống sông Hát môn tự vẫn, Trưng Trắc được mời ăn bánh trôi, mà là hình tròn của bánh dầy bọc lấy đường hình vuông của bánh chưng. Có thể làm bánh chưng ngọt và bánh dầy nhân đỗ xanh sên mật để mô tả quá trình chuyển hoá vuông tròn này.
Trong quá trình tự tay làm bánh chưng và bánh dầy Tết, một ngày chúng ta sẽ chạm vào được ý nghĩa của bánh chưng bánh dầy, qua đó được truyền thừa mà cha ông mong muốn truyền lại cho chúng ta qua bánh Tết, từ đời Hùng Vương 7.
Lang Liêu sáng tạo ra bánh chưng bánh dầy vừa như một phong tục uống nước nhớ nguồn với các thế hệ cha ông, vừa là một truyền thừa cho thế hệ sau. Bánh chưng bánh dầy ra đời vào thời khắc chuyển pháp, chuyển thế trọng đại của dân tộc ta, sau sự kiện đánh thắng giặc Ân và trước sự kiện sụp đổ nhà Thương thành lập nhà Chu, mà chính là một dòng máu tách ra chay song song với thời Hùng Vương tính từ đời Hùng Vương thứ 7 của Lang Liêu. Bánh chưng và bánh dầy ra đời để đáp ứng đòi hỏi của dân tộc phải giữ được gốc của hai dòng truyền thừa này, đến thế hệ chúng ta là sau hơn 3000 năm.
Truyện Kiều của Nguyễn Du viết về cuộc đời lênh đênh như bánh trôi của Kiều trong một thời kỳ chuyển thế sau này của dân tộc, vào thời Mạc, cũng nhắc đến mô hình gốc của bánh chưng, bánh dầy.
Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh
Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng
Cấu trúc trứ trụ vuông hai kinh – bốn phương – tám hướng và cấu trúc vòng tròn âm dương lưỡng nghi (đối xứng với hai kinh) – tứ tượng (đối xứng với bốn phương) – bát quái (đối xứng với tám hướng). Đây chính là bộ cấu trúc đối xứng âm dương, biểu tượng bởi cặp bánh chưng và bánh dầy Tết.
Chia sẻ:
Scroll to Top