TĨNH CÔNG : TƯ THẾ CỦA THẦN SHIVA

Loading

NGUYÊN THẾ
Tư thế này tạm gọi là thế tổ, thế gốc, nguyên thế hay bình thế, bởi vì đây là tư thế của Shiva một vị yogi toàn tri, một đấng Thế tổ.
Tư thế này tổng hợp và cân bằng tất cả các thế, và có thể chuyển thành bất kỳ thế nào khác.
Shiva đại diện cho một bộ trạng thái cơ bản, nên tồn tại tất cả tôn giáo, trong huyền sử của mọi văn minh trong rất nhiều hình thái và tên gọi khác nhau.
Trạng thái Shiva trong tiếng Việt gọi là bình than (do Đức Thánh Trần đứng) hay thái bình (do Vua cha Bát Hải Động Đình đứng). Diêm Vương và Long Vương các vua cha xứ sở gần nhất với Shiva trong truyền thống đạo Mẫu. Huyền thiên Trấn Vũ hoặc Huyền thiên Chân Vũ là vị thần Đạo Lão gần gũi nhất với hình tượng Shiva.
THẦN SHIVA
Shiva hay Thấp Bà (tiếng Phạn: शिव Śiva), còn được gọi là Mahadeva hay Ma-ha-đề-bà (/məˈhɑː ˈdeɪvə/; tiếng Phạn: महादेव:, n.đ. ‘Thần Vĩ Đại’, Mahādevaḥ, [mɐɦaːd̪eːʋɐh) là vị thần tối cao trong nhiều truyền thống tôn giáo Ân Độ và Nam Á.
Trong phái Smarta, Shiva là một trong năm hình thức nguyên sơ của Thượng đế.
Trong một số trường phái Ấn Độ giáo khác, Brahma, Vishnu, và Shiva đại diện cho ba khía cạnh thần thánh của Ấn Độ giáo và hợp chung thành bộ tam thần Trimurti, với Brahma là người sáng tạo, và Vishnu là đấng bảo hộ và Shiva là hiện thân của sự hủy diệt.
Nhưng bên ngoài bộ tam thần này, Shiva là hiện thân của tất cả: sáng tạo và một sự khởi đầu mới cũng như bảo quản và tiêu hủy. Thần Shiva còn được gọi bằng rất nhiều tên và danh hiệu khác.
Ở cấp độ cao nhất, Shiva được xem như vô hạn, siêu việt, bất biến và vô tướng vô hình. Shiva có rất nhiều hình thức vừa nhân từ vừa gây kinh sợ. Trong khía cạnh nhân từ, thần Shiva được mô tả như là một Yogi toàn trí, người sống trong một cuộc sống khổ hạnh trên núi Kailash, cũng như một chủ hộ có vợ là Parvati và hai con là Ganesha và Kartikeya, và ở khía cạnh kinh sợ, Shiva thường được mô tả như một ác thần hay chém giết. Shiva cũng được xem như thần bảo trợ của yoga và nghệ thuật.
Các thuộc tính biểu tượng chính của Shiva là con mắt thứ ba trên trán, con rắn Vasuki quanh cổ, trăng lưỡi liềm trang hoàng, sông thánh Ganga (Sông Hằng) chảy từ mái tóc rối bù của mình, với vũ khí là Trishula (đinh ba) và nhạc cụ là damaru (một loại trống lắc). Thần Shiva thường được thờ cúng dưới hình thức Shiva linga. Trong các ảnh tượng, thần thường được thể hiện trong trạng thái thiền định sâu hoặc đang múa điệu Tandava trên Maya. Vật cưỡi là con bò mộng Nandi.
Thần Shiva không phải là vị thần huỷ diệt hay giết chóc, theo nghĩa thông thường của hai từ này, mà là vị thần phụ trách trạng thái chuyển tiếp giữa sinh và tử, tử và sinh, chuyển tiếp giữa các chu kỳ và trạng thái lưỡng nghĩ âm dương.
Với Tết Nguyên Đán, thần Shiva giống như là ông Ba mươi, trong các thành ngư dân gian “30 chưa phải là Tết”, “tối như đêm 30”. Thần Shiva đại diện cho trạng thái tổng hợp, cân bằng, chuyển tiếp giữa năm cũ và năm mới. Thần Shiva huỷ diệt năm cũ và tái sinh năm mới, và chúng ta trong Tết Nguyên Đán đặc biệt Giao thừa cũng có chết đi và tái sinh như vậy với tinh thần của Shiva.
Chân ngôn : Om Namah Shivaya
—o—
TƯ THẾ CHÂN
Cấu trúc đóng khoá
– Chân trên mặt phẳng chéo chính (Mid-Coronal)
– Chân phải trụ gót,
– Chân trái tỳ mũi, gót chân trái gác lên cổ chân phải tại vị trí phía sau
Vận hành
– Tư thế này vận hành vật lý bằng cách đổi chân trụ, nhưng vì hai chân lồng vào nhau và khóa, nên đổi chân là phải mở và xoay khóa chân. Hai chân liên tục đổi tư thế cho nhau, và lần lượt dập gót xuống trong khi ngón chân vẫn được tỳ vào mặt đất, tạo nên trạng thái sóng lưỡng nghi, là sóng nền, và nhịp phách đôi là nhịp dập gót của hai chân.
Lưu ý : Khoá chân của tư thế đứng với gót chân này đặt lên cổ chân kia, có 2 dạng
– 2 chân nằm trên cùng mặt phẳng Mid-Coronal, với gót chân này đặt lên cổ chân kia ở phía sau
– 2 chân nằm trên 2 mặt phẳng vuông góc, chân trụ nằm trên mặt phẳng dọc chính Mid-Sagital, chân vận hành nằm trên mặt phẳng Mid-Coronal chéo chính, với gót chân này đặt lên cổ chân kia ở mặt bên (mắt cá chân)
Chân thường được mô tả mang giầy bệt mỏng và mềm hoặc ở dạng chân đất có đèo vòng hay lắc ở cổ chân.
—o—
TƯ THẾ TAY
Cấu trúc :
– Hai tay nắm hờ, gập khửu tay
– Hai tay nắm hai thanh bảo vật, đầu thanh hướng lên trời, chuôi thanh nằm bàn tay
– – – Bảo vật ở một bên tay là đinh ba đại diện cho nước đất phân tách (kim)
– – – Bảo vật ở bên tay còn lại là quyền trượng hoả khí kết hợp (mộc).
Vận hành :
– Tay vận hành giữa các trạng thái thấp và cao
– – – Tay thấp tiếp xúc với chân
– – – Tay cao đưa lên đầu, gặp nhau trên đầu và khoá lại với nhau theo cách đối xứng với tay. Trong các bức tượng, tay trên đầu thường bị ẩn sau cấu trúc đỉnh đầu, vì đây là tay âm thanh.
– Năng lượng của bảo vật thay đổi và bảo vật cũng có thể chuyển tay
—o—
THỞ RỐN
Trụ thế và thở ở rốn.
Khửu tay ở vị trí ngang rốn, khửu chân ở vị trí lưng chừng thấp và đóng. Để hiểu thế nào là lưng chừng thấp cần phải hiểu tư thế cao hơn là đầu gối đưa lên ngang rốn và đầu gối thấp hơn là tiếp đất. Để hiểu thế nào là đóng phải hiểu thế nào là mở-tay chân tách ra khỏi nhau và hướng ra ngoài
—o—
TRUYỀN THỪA
Đây là một trong các tư thế truyền thừa như tư thế lạy Phật. Nghĩa là có sự trao truyền từ tổ, thông qua việc thực hành tư thế này. Truyền thừa giúp người tập đạt được cái “thần” của tư thế và thông qua tư thế nhân được truyền thừa.
Có hai truyền thừa chính được thực hiện trong tư thế này.
– Bảo vật là năng lượng xuất hiện khi vận hành đúng tư thế. Đây là cũng một trong các truyền thừa của tư thế này, nghĩa là ai ở xứ sở gốc nào, thuộc về dòng máu gốc nào, thì sẽ nhận được bảo vật tương ứng theo truyền thừa của mình khi tập tư thế này. Đức truyền thừa là thần Shiva, hay đức Thế tổ.
– Truyền thừa nhịp điệu từ xứ sở, với Shiva là cha xứ sở. Đây là nhịp thở đầu tiên của mỗi người trong đầu thai và là nhịp nền đi suốt đầu thai cho cả bào thai gồm thân rốn ối nhau.
—o—
KÝ ỨC & SỰ THẤU HIỂU
Ký ức đầu thai : Nhịp của tư thế chính là nhịp xứ sở
Chia sẻ:
Scroll to Top