![]()
RUỘT THỪA NẰM Ở ĐÂU ?
Ruột thừa là đoạn ruột “lơ lửng” cắm vào đoạn cuối của ruột non và đoạn đầu của ruột già, nghĩa là ruột thừa là ruột chưa già mà cũng chẳng còn non.
Nếu không có ruột thừa thì ruột già sẽ chỉ tiếp tục vận hành của ruột non, nhưng với sự xuất hiện của ruột thừa, ruột già sẽ nhận truyền thừa, nhận kế thừa từ ruột thừa, đồng thời với việc đi tiếp vận hành tiêu hoá của ruột non.
Ruột thừa liên quan đến phần ruột hình thành từ trong bào thai, mà mọc ra từ ruột của mẹ đẻ, cho nên có câu
– Mẹ đẻ – Con ruột
– Dứt ruột đẻ ra
– Máu mủ – Ruột già (là đoạn ruột bắt đầu từ ruột thừa)
– Máu chảy ruột mềm
Đứa con được sinh ra và nuôi nấng từ ruột của mẹ, nói cách khác ruột mẹ và ruột con nuối với nhau, thông qua ruột thừa.
Ruột thừa liên quan đến truyền thừa dòng máu mẹ sạng con trong thời gian mang thai. Ruột thừa là ruột truyền thừa, ruột kế thừa, chứ không phải ruột bị thừa ra để bị cắt bỏ, như niềm tin của chúng ta. Mất ruột thừa tương đương với mất truyền thừa từ tổ, mất kế thừa từ tông, nói cách khác là mất tổ tông, mất gốc.
TRUYỀN THỪA
Các dạng truyền thừa quen thuộc là
– truyền thừa của đạo sư đến một học trò, mà sẽ kế tục được đạo sư để tiếp tục truyền đạo cho các thế hệ sau : truyền thừa dòng Thánh
– truyền ngôi vua, để tiếp tục làm vua : truyền thừa dòng Vua
– truyền máu huyết, tinh huyết cho con, để con tiếp tục truyền cho cháu : truyền thừa dòng Chúa
Kết hợp truyền thừa của dòng Thánh và dòng Chúa, tạo nên dòng truyền thừa Thánh Chúa. Các chùa Thánh Chúa đi theo dòng truyền thừa này. Các vua có “Thánh Tông” trong tên như Lý Thánh Tông, Trần Thánh Tông, Lê Thánh Tông đi theo dạng truyền thừa này.
Kết hợp dòng truyền thừa của Vua với dòng truyền thừa của Chúa, nghĩa là Vua sẽ truyền ngôi cho chính con của mình là truyền thừa Vua Chúa. Cơ bản ngôi vua của các dòng họ Đinh, Lê, Lý, Trần … đi theo dạng truyền thừa này. Các vua có “Thái Tông” trong tên như Lý Thái Tông, Trần Thái Tông, Lê Thái Tông đi theo dạng truyền thừa này.
KẾ THỪA
Kế thừa dạng truyền thừa có tính kết nối theo thời gian theo thế hệ, không chặt chẽ như truyền thừa. Ai làm chủ được một trong các giá trị truyền thống của tổ tông đều có thể kế thừa giá trị đó và trở thành người kế thừa. Cơ bản người đi sau sẽ luôn kế thừa cái này hoặc cái khác của người đi trước.
MẬT THỪA
Lấy ví dụ về việc truyền thừa y bát của đức Phật Thích Ca.
– Y Bát là của Đức Phật Thích Ca (tổ thứ 1)
– Y bát truyền cho Ma Ha Ca Diếp (tổ thứ 2)
– Y Bát được truyền từ đời này sang đời khác qua các vị Tổ tiếp theo như A Nan, Thương Na Hòa Tu, Long Thọ, …
– Bồ Đề Đạt Ma là tổ thứ 28, vị tổ cuối cùng truyền thừa tại Ấn Độ
– Ngài sang Trung Hoa, trở thành tổ thứ 1 của Trung Hoa.
– Bồ Đề Đạt Ma truyền Y Bát cho Huệ Khả (sơ tổ thiền tông Trung Hoa, tổ thứ 2 Trung Hoa, tổ thứ 29 Ấn Độ).
– Dòng thiền tiếp tục qua các vị Tổ : Tăng Xán (tổ thứ 3 Trung Hoa, tổ thứ 30 Ấn Độ), Đạo Tín (tổ thứ 4 Trung Hoa, tổ thứ 31 Ấn Độ), Hoằng Nhẫn (tổ thứ 5 Trung Hoa, tổ thứ 32 Ấn Độ), đến Huệ Năng (tổ thứ 6 Trung Hoa, tổ thứ 33 Ấn Độ)
– Huệ Năng là tổ thứ 6 Trung Hoa, nên được gọi là Lục Tổ Huệ Năng. Huệ Năng có rất nhiều học trò, nhưng mỗi người chỉ kế thừa một phần năng lực của Huệ Năng, trở thành tổ của nhiều dòng thiền khác nhau mà phân nhánh từ Lục Tổ, không có học trò nào của Huệ Năng nhận được y bát. Dòng truyền thừa Y Bát từ đức Phật Thích Ca đến đây là chấm dứt.
Các học trò của Lục Tổ chỉ kế thừa một phần năng lực của thày chứ không được nhận được truyền thừa từ Lục Tổ Huệ Năng, nên không thực sự kết nối được với Phật Giáo nguyên thuỷ của đức Phật Thích Ca.
Sau khi Lục Tổ Huệ Năng mất (713) được vài năm thì ngài Liên Hoa Sinh ra đời (717). Ngài Liên Hoa Sinh được coi là vị Phật thứ 2, sau vị Phật thứ 1 là thày Thích Ca. Ngài Liên Hoa Sinh là người bắt đầu truyền thống Phật Giáo Tây Tạng.
Phật Giáo Tây Tạng là Mật tông. Việc kế thừa và truyền thừa Phật Giáo Tây Tạng từ thế hệ này đến thế hệ khác được thực hiện theo hình thức mật thừa, không có truyền thừa y bát như trước thời Lục Tổ Huệ Năng, cũng không có các kế thừa hiển lộ các kiến thức và các kỹ năng từ thầy sang trò như sau thời Lục Tổ Huệ Năng.
Ngài Liên Hoa Sinh nhận mật thừa thực tiếp từ đức Thích Ca, cho nên ngài được coi là đức Phật thứ 2. Bản thân ngài Liên Hoa Sinh cũng mật thừa cho các thế hệ sau, nên không ai biết được truyền nhân của ngài là ai, có bao nhiêu người, trừ chính người truyền nhân đó.
TRUYỀN THỪA DÒNG MÁU TỪ MẸ ĐẺ SANG MẸ NUÔI
Dòng máu của mẹ được truyền sang em bé sơ sinh qua việc nuôi con bằng sữa mẹ
– Tim là trung tâm vận hành của máu nuôi thân, trong thời gian cho con bé, tim của người mẹ vừa cung cấp máu nuôi thân người mẹ vừa cung cấp máu nuôi thân của đứa con
– Đường máu đi từ tim đến vú có 2 cổng là cổng tim và cổng vú
– Tuyến sữa là trung tâm vận hành của sữa, tại đây xảy ra chuyển hoá máu thành sữa
– Sữa mẹ đi từ tuyến vú ra đầu vú, sang miệng của đứa con. Đường sữa có 2 cổng là cổng bầu vú và cổng núm vú. Giữa hai cổng này là cổ gà.
– Sữa mẹ đi vào đường tiêu hoá của đứa con qua thực quản, dạ dày, ruột non, ruột thừa, ruột già.
Dòng máu của mẹ được truyền sang bào thai qua việc nuôi bào thai trong dạ con.
– Rốn là trung tâm vận hành của máu nuôi bào thai
– Đường máu này đi từ ruột thừa của mẹ đến ruột thừa của con qua điểm làm tổ của bào thai trong tử cung người mẹ. Ruột thừa của con giai đoạn đầu gọi là ruột rốn, ruột rốn phân hóa thành rốn nhau, rốn bào thai và rốn thân, và phát triển qua các giai đoạn thành bào thai hoàn chỉnh.
– Đường máu có 2 cổng là cổng ruột (chính là ruột thừa) và cổng làm tổ của bào thai trong dạ con, và cổng trung gian nằm trên mạc bụng và mạc chậu.
Như vậy ruột thừa sẽ là cổng trung gian nối thời kỳ nuôi con bằng máu nhau trong dạ con, sang thời kỳ nuôi con bằng sữa mẹ. Ruột thừa là điểm truyền đổi truyền thừa giữa mẹ đẻ sang mẹ nuôi.
Trong trường hợp mẹ đẻ và mẹ nuôi là cùng một người thì việc chuyển đổi từ mẹ đẻ nuôi con bằng dạ con, sang mẹ nuôi nuôi con bằng sữa mẹ thực hiện bên trong một cơ thể, qua một khoá ruột thừa và một khoá rốn.
Trong trường hợp mẹ đẻ và mẹ nuôi là hai người thì việc chuyển đổi từ mẹ đẻ sang mẹ nuôi thực hiện thông qua hai bộ ruột thừa, hai bộ rốn.
Vậy muốn dứt căn với mẹ đẻ và mẹ nuôi, đều cần mở lại rồi lại đóng khoá truyền thừa rốn và ruột thừa.

