GỐC ĐẤT NƯỚC & TRUYỀN THỪA ĐẤT, TRUYỀN THỪA MÁU

Loading

GỐC ĐẤT VÀ GỐC NƯỚC
Người có hai cái gốc âm dương với nhau
– Gốc đất, hay gốc thân.
– Gốc nước, hay gốc máu.
Sinh vật cũng như người có 2 gốc đất nước
– Cây trà hoa vàng Tam Đảo : Tam Đảo là gốc đất, trà là gốc nước
– Nhãn lồng Hưng Yên : Hưng Yên là gốc đất, nhãn lồng là gốc nước
– Chó Phú Quốc : Phú Quốc là gốc đất và chó là gốc máu
Gốc đất liên quan đến
– Thân thể (nơi sinh sống của tinh thần, của hồn vía)
– Ngôi nhà (nơi sinh sống của gia đình)
– Làng xã (nơi sinh sống của chi họ)
– Quê hương (nơi sinh sống của cha mẹ, dòng họ)
– Đất nước (nơi sinh sống của dân tộc)
Gốc nước liên quan đến
– Dòng máu
– Gia đình (là người cùng dòng máu sống trong cùng một gốc nhà đất, như ông bà, cha mẹ, con cái)
– Chi họ (là một nhánh của dòng họ gồm nhiều gia đình sống ở một khu vực làng xã)
– Dòng họ
– Dân tộc ví dụ dân tộc Bách Việt sống trên đất nước Việt (khác với đất nước Việt Nam cụ thể ngày nay)
Hai gốc này tạo thành bộ
– Bào thai : Thân Rốn Nhau có gốc đất (Sơn tinh) và Ối Bào có gốc nước (Thuỷ tinh)
– Nhà đất – Gia đình
– Làng xã – Chi họ
– Quê hương – Dòng họ
– Đất nước – Dân tộc, ví dụ đất nước Việt đi với dân tộc Việt
Ở cấp độ bào thai
– Thân giữ gốc đất nước ở trạng thái phân tách
– Nhau giữ gốc đất nước ở trạng thái chồng chập
– Rốn giữ gốc đất nước ở trạng thái liên kết (cả phân tách và chồng chập)
– Ối giữ nước ở trạng thái phân tách
– Bào giữ nước ở trạng thái chồng chập
Ở cấp nhà đất – gia đình
– Thổ địa là thần đất, thờ thổ địa là biết giữ cái gốc của đất
– Thần tài là thần luồng, thờ thần tài là biết bảo vệ vận hành của sinh vật trên đất trong đó có con người, chứ không chỉ có con người
Ở cấp làng xã – chi họ
– Có các vị công thần lập làng, giữ đất
– Có các vị bảo vệ dân và phát triển đời sống của người dân
CỘI NGUỒN
Gốc đất thường được gọi là cội rễ. Gốc nước thường được gọi là nguồn gốc. Gốc đất nước gọi chung là cội nguồn.
Cội nguồn của mọi sinh vật trước hết là cha mẹ.
Ông bà đầu nhau chính là bộ cha mẹ đại diện của mỗi con người, gia đình, chi họ, dòng họ, dân tộc.
– Ông Công giữ gốc đất, liên quan đến quê hương, mang tính nam,
– Ông Táo giữ gốc nước, liên quan đến dòng máu, mang tính nam
– Bà Thị giữ gốc đất nước về cả đất nước và dòng máu, tính nữ
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Trong bài ca dao này, cha giữ gốc đất, ứng với chữ Công và núi Thái Sơn, với Thái là thái cực, Sơn là kết cấu đất tách khỏi nước, mẹ giữ gốc nước tách khỏi Sơn, ứng với chữ Nghĩa. Đất nước ở đây ở trạng thái phân tách.
Phiên bản quen thuộc của sự tích Bách Việt là trong 100 người con của bọc Trăm trứng, nhóm 50 người con theo mẹ lên núi, có mẹ giữ gốc đất và nhóm 50 người con theo cha xuống biển, có cha giữ gốc nước. Tuy nhiên, trong bản tích về thánh Tản Viên do Nguyễn Bình Khiêm biên soạn, nhóm 50 người con theo cha lên núi, còn nhóm 50 người con theo mẹ xuống biển. Vậy cả cha và mẹ đều có thể giữ gốc đất và gốc nước.
Có những gia đình, dòng họ, dân tộc, mà mẹ giữ đất và cha giữ nước. Có những gia đình, dòng họ, dân tộc, mà cha giữ đất và mẹ giữ nước. Khi những gia đình khác biệt về nguồn gốc này kết hợp, có thể tạo ra tổ hợp : Cha đất mẹ nước + Cha nước mẹ đất = Con trọn vẹn đất nước ở cả trạng thái âm dương phân tách và chồng chập.
Tại sao các dòng máu khác gốc có thể ghép lại như vậy, bởi vì khi truy nguyên các dòng máu này, thì chúng lại chung gốc. Sự kiện 50 người con lên rừng và 50 người xuống biển chính là sự kiện tách gốc đất và tách gốc nước tiêu biểu của Bách Việt từ thời khởi thuỷ.
CỘI NGUỒN CỦA NGƯỜI VIỆT
Tổ của người Việt
– Kinh Dương Vương là quốc tổ, giữ gốc đất, là vua cha, ông đã đặt ra ba tên đất nước Việt như sau
– – – Xích Quỷ là đất nước liên kết, giữa quân và vua, qua quan và thánh chúa, ứng với trạng thái rốn
– – – Việt Thường là đất nước của dân thường, đất nước chồng chập, ứng với trạng thái nhau
– – – Văn Lang là đất nước phân tách, ứng với trạng thái thôn
– Lạc Long Quân là thuỷ tổ, giữ gốc nước, là chúa cha, ông đã đặt tên trăm con, mà sau này ứng với Bách Việt và trăm họ
Hai Bà Trưng chính là Bà đất nước
– Trưng Trắc giữ gốc đất
– Trưng Nhị giữ gốc nước, vì nước thì có tính nước đôi, tính lưỡng nghi
Tam Toà Thánh Mẫu (tương tự với Tam vị Chúa Mường)
– Mẫu Thượng Thiên giữ gốc đất vận hành về trời
– Mẫu Thoải giữ gốc nước vận hành xuống đất
– Mẫu Thượng Ngàn giữ gốc nước ở trạng thái chồng chập với đất (đối xứng với Sơn Trang giữ gốc đất dung chứa nước)
Dòng máu của người Kinh đại diện cho các dân tộc ở phía Bắc có gốc cha đất mẹ nước (Kinh Dương Vương & Long Nữ Tiên Cát) và cha nước mẹ đất (Lạc Long Quân & Âu Cơ). Dòng máu của người Chăm, đại diện cho các dân tộc phía Nam là đất nước chồng chập.
SƠN TINH (gốc đất) – THUỶ TINH (gốc nước)
Bách Việt theo cha mẹ chia đôi
– 50 con lên rừng (theo bố hay theo mẹ) là dòng Sơn Tinh, mà lại gồm 2 nhánh
– – – giữ gốc đất, lên núi là về lại gốc đất, Sơn Tinh gốc ở trạng thái phân tách
– – – giữ gốc nước, lên núi là chuyển đổi sang gốc đất từ gốc nước,
– 50 con xuống biển (theo bố hay theo mẹ) là dòng Thuỷ Tinh, mà lại gồm 2 nhánh
– – – giữ gốc nước, xuống biển là về lại gốc nước, Thuỷ Tinh gốc ở trạng thái phân tách
– – – giữ gốc nước, xuống biển là chuyển đổi sang gốc đất từ gốc nước
Cuối thời Hùng Vương, vua Hùng Vương chỉ sinh được 2 con gái, Ngọc Hoa gả cho Tản Viên và Tiên Dung gả cho Chử Đồng Tử
– Tản Viên giữ gốc đất, dòng lên núi Sơn Tinh
– Chử Đồng Tử giữ gốc nước, dòng về biển Thuỷ Tinh
Trong cuộc chiến Sơn Tinh và Thuỷ Tinh
– Sơn Tinh giữ gốc đất
– Thuỷ Tinh giữ gốc nước
Trong Tứ bất tử
– Tản Viên giữ gốc đất, ở trạng thái liên kết (là dòng máu vua cha Tản Viên)
– Chử Đồng Tử giữ gốc nước, ở trạng thái phân tách (là dòng máu vua cha Long Vương)
– Thánh Gióng giữ gốc đất nước ở trạng thái chồng chập (là dòng máu vua cha Diêm Vương)
– Liễu Hạnh giữ gốc đất nước ở trạng thái vừa phân tách vừa chồng chập, mang tính nữ (Ngọc Hoàng là vua cha xứ sở của Liễu Hạnh)
MẤT GỐC
Dựa trên cặp âm dương gốc đất và gốc nước của mỗi con người, mất gốc có mấy trạng thái chính
– Mất gốc đất, ở trạng thái phân tách với gốc nước, nên có thể tạm coi là còn giữ được gốc nước
– Mất gốc nước, ở trạng thái phân tách với gốc đất nên có thể tạm coi là còn giữ được gốc đất
– Mất gốc cả đất nước, ở trạng thái chồng chập
– Mất cả gốc đất và nước ở trạng thái chồng chập và phân tách, đây là trạng thái tuyệt diệt.
Ví dụ cây trà hoa vàng Tam Đảo đưa về trồng vào cái chậu đất bé tý hay trong cả mảnh vườn to đùng, mà nó không còn giữ được màu sắc hương vị của cây trà hoa vàng Tam Đảo thì nghĩa là nó bị mất gốc đất. Tuy nhiên, nước ở chỗ trồng mới cũng có thể khác xa nước ở Tam Đảo, mà nước là gốc máu, gốc nhựa cây. Cho nên giữ được gốc đất và nước của cây trà hoa vàng Tam Đảo ở ngoài Tam Đảo là cực kỳ khó. Còn nếu trồng một cây mất gốc hoặc có gốc nhưng làm cho nó mất gốc thì quá đơn giản.
Mất gốc cấp độ bào thai là
– Quá trình mang thai không đúng (sai từ cha mẹ, sai cách thức, các vấn đề và bệnh trong quá trình mang thai …)
– Mất liên kết thân rốn ối nhau bào, từ lúc sinh do không sinh đúng (sai nơi chốn, sai thời điểm, sai cách thức, sai đối tượng), không chôn nhau cắt rốn đúng
– Chỉ biết mỗi cái bản thân, nghĩa là mất trạng thái nước nguồn liên quan đến ối bào và trạng thái thái sơn của cả bộ thân rốn nhau
Mất gốc cấp độ ngôi nhà và gia đình
– Mất gốc nhà thể hiện ở việc
– – – ở chung cư
– – – ở nhà thuê
– – – chung đụng nhà đất
– – – chiếm dụng nhà đất hoặc để nhà đất của mình bị lấn chiếm
– – – tranh chấp nhà đất
– – – mất cấu phần đất khi xây nhà như không đủ biên đất, không có đủ đất cho sân vườn ao chuồng
– – – không thờ cúng thân linh trên đất, như thần tài, thổ địa, hà bá, sơn thần, thành hoàng bản cảnh …
– Mất gốc gia đình
– – – Ly hôn, ly dị
– – – Các thành viên gia đình ly tán, thù oán, huynh đệ tương tàn
– – – Thiếu sinh hoạt gia đình như bữa cơm gia đình
– – – Từ gia đình
– – – Xuất gia về hình thức nhưng không đủ năng lực thực hiện, dẫn đến các nợ nần và vướng mắc với gia đình
– – – Đổi họ (sai)
Mất gốc cấp độ làng xã & dòng họ
– Mất gốc làng xã
– – – Cấu trúc lãng xã bị phá huỷ : đình làng, chùa làng, đền làng, miếu làng, giếng làng, ao làng, sông hồ kênh mương của làng, cánh đồng làng, luỹ tre làng, cây đa của làng, hệ sinh thái cây con của làng, xóm làng, các dòng họ trong làng, người dân làng, các tích cổ của làng, các truyền thống văn hoá nghệ thuật của làng, các truyền thống học hành của làng, các nghề thủ công của làng
– – – Sống ở trên đất nhưng không tiếp đất, không nắm được lịch sử văn hoá của đất, không tham gia vào mua sắm chợ búa, không tham gia vào hoạt động kinh tế nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại chợ búa của làng, không sinh hoạt văn hoá như một người dân làng …
– – – Sống kiểu sáng đi ra ngoài làng, tối về làng đóng cửa ngủ …
– – – Sống online : mua bán online, tụ tập online, bạn bè ở xa,
– – – Ly hương
– Mất gốc dòng họ
– – – Cấu trúc dòng họ cơ bản với các truyền thống của các dòng họ bị mất
Một người sống ở đâu và làm nhà đất kiểu gì cũng được, lập gia đình và dưỡng dục con cái thế nào cũng được, nhưng một khi đã đặt ra câu hỏi rằng sống làm sao để tìm lại được gốc và giữ gìn được gốc trong thời đại này thì không đơn giản. Việc đầu tiên người này phải làm là giữ gốc thân, gốc máu, gốc nhà đất và gốc gia đình của mình.
Cuộc chiến Sơn Tinh – Thuỷ Tinh xảy ra vào giai đoạn kết thúc thời kỳ Hùng Vương và bắt đầu thời kỳ Công Nguyên, Thuỷ Tinh thua dẫn đến tình trạng mất nước, mất máu, mất gốc nước, phải cứu nước, phải giữ nước, phải bảo vệ dòng máu dân tộc trong suốt Công Nguyên. Tuy nhiên tình trạng mất nước quá nặng của Công Nguyên dẫn đến mất luôn cả đất, và các sinh vật ở trạng thái suy thoái hoặc tiệt chủng hoặc đe doạ tuyệt chủng hàng loạt trong đó các tộc người trên toàn cầu.
Có đất không có nghĩa là có gốc đất, có người, có họ không có nghĩa là có gốc máu. Điều này đúng từ cấp độ thân thể – dòng máu, ngôi nhà – gia đình, đến cấp độ quê hương – dòng họ, đất nước – dân tộc.
Người Trung Quốc liên tục mở rộng được đất đai trong Công Nguyên, dù trải qua nhiều nội chiến khi lãnh thổ bành trướng bị phân ra thành nhiều quốc gia rồi lại tái hợp, nhưng cơ bản phần diện tích đất của Trung Quốc hiện nay là lớn nhất so với đầu Công Nguyên. Mỗi triều đại của Trung Quốc thường lấy tên vùng đất gốc làm tên hiệu. Câu hỏi cái gốc đất của cả Trung Quốc là gì ?
Trung Quốc có nhiều người, không có nghĩa họ chắc chắn về gốc dân tộc của mình. Dân tộc đông dân nhất của Trung Quốc là người Hán, hình thành từ liên minh các bộ lạc Hoa Hạ, sau đó mở rộng và đồng hóa các nhóm dân tộc khác trong quá trình lịch sử, đặc biệt từ thời Tần-Hán. Bộ lạc Hoa Hạ không phải là một dân tộc theo nghĩa gốc của nó, vì cái tên Hoa Hạ gắn với vùng đất hơn là gắn với dòng máu. Người Trung Quốc không phải người Hoa, vì Hoa chỉ từ để chỉ người tinh hoa không cần biết thuộc dân tộc nào.
Người Trung Quốc có xu hướng lấy gốc tích, lấy văn hoá của người thuộc vùng đất mà họ xâm chiếm hay sát nhập để làm cái gốc chung cho họ, dẫn đến cái gì cũng thuộc về Trung Quốc. Đó là hiện tượng bánh trường ghép gốc, tạp gốc, mà đến mức độ nào đó sẽ dẫn đến mất gốc.
Nhiều người Việt hiện nay sống trên đất Việt thế mà cái gì cũng nói của Trung Quốc, từ Trung Quốc, như lễ Tết này, phong tục này, từ ngữ này, vị thần này …. gốc của Trung Quốc. Hãy lấy ví dụ về phong tục, mà có gốc ở cả dân tộc và vùng đất. Thứ nhất, phong tục của dân tộc nào thì cái gốc phải là từ dân tộc đó, mà dân tộc thì không đứng yên trong một vùng đất mà luôn di chuyển và tách nhập, nên truy nguyên nguồn gốc dân tộc là cực kỳ khó khăn. Tuy nhiên, rất nhiều phong tục lễ Tết có bằng chứng rành rành là do người Việt sáng tạo ra như bánh chưng bánh dày hay bánh trôi bánh chay. Thứ hai, đất nước Trung Quốc bây giờ truy nguyên làm sao, truy nguyên cách nào về được cái thời xa xưa khi phát sinh phong tục ấy. Những đất nước mà Trung Quốc đưa vào sử của họ như nước Sở chẳng hạn chắc gì đã ở trên đất Trung Quốc bây giờ, trong khi trên đất nước Việt Nam hiện tại các phong tục vẫn được đông đảo gia đình Việt thực hiện theo cách mà ông bà tổ tiên họ vẫn làm.
GỐC CỦA CÁC TRIỀU ĐẠI
Một triều đại phải đại diện cho cái gốc của đất nước và dân tộc.
Gốc máu của các triều đại Việt là rất rõ ràng. Nhà Đinh, Lê, Lý, Trần của người Việt được đặt theo tên họ, dòng họ vua là dòng họ đại diện trăm họ Bách Việt đứng lên giữ gìn và phát triển dòng máu Việt.
Gốc đất của các triều đại Việt cũng khá rõ ràng, mỗi triều đại đều có một vùng đất phát tích và đều xác lập một đường biên quốc gia, là đất sông của dân trăm họ, dưới bảo trợ của dòng họ vua.
Trong các triều đại của nước ta, có lẽ Tây Sơn là một trong các triều đại khó xác định gốc đất và gốc máu nhất, vì nó có tình chồng chập, chuyển hoá, xen kẽ, gối đầu mạnh hơn tính độc lập, thống nhất, có tính lật đổ và kết thúc mạnh hơn tính kiến tạo, bảo vệ và dưỡng nuôi.
Thứ nhất, hãy nói về gốc đất của triều đại Tây Sơn. Tây Sơn là gốc đất của ba anh em Tây Sơn Tam Kiệt. Tây Sơn có lẽ là triều đại duy nhất không lấy tên họ, không đại diện cho trăm họ Bách Việt, mà lấy theo tên vùng đất phát tích, rất giống một triều đại tiêu biểu của Trung Quốc. Tuy nhiên, tính biên giới lãnh thổ của các triều đại Trung Quốc cực kỳ mạnh, trong khi tính biên giới lãnh thổ của triều đại Tây Sơn lai không rõ ràng.
Trước khi đem quân đi đánh quân Thanh, Nguyễn Huệ xưng Hoàng Đế ở núi Bân, Phú Xuân. Lễ lên ngôi này không xác định Phú Xuân là kinh đô, cũng không xác định lãnh thổ của hoàng đế có đường biên gì và được bảo vệ thế nào.
Vua Quang Trung đánh đông đẹp bắc bách chiến bách thắng, nhưng câu hỏi là biên giới quốc gia mà vua Quang Trung xác lập sau các cuộc chiến đó là gì và ai là đại diện cho nhà Tây Sơn giữ biên giới đất này. Câu này khó mà trả lời được. Lấy ví dụ về ba lần quan trọng mà Quang Trung Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc, đều là để dẹp yên một thế lực nào đó, và đều chiến thắng được thế lực này nhưng lại không thực sự thống nhất Bắc Nam. Nguyễn Huệ mỗi lần tiến quân ra Bắc đều để lại người của mình như Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm để “cai trị” Bắc Hà nhưng lại không xác định rõ ràng những người này ở trong trật tự thứ bậc quan lại nào với cả Tây Sơn và lẫn Bắc Hà. Sau khi vào Nam, Nguyễn Huệ lại ra Bắc lần nữa để đánh chính các vị mà ông đã dựng lên do họ lại thành thế lực chống đối. Vua Lê Chiêu Thống là người do Nguyễn Huê đưa lên, rồi Lê Chiêu Thống lại bị chính cấp dưới của Nguyễn Huệ chiếm quyền, sau này Lê Chiêu Thống đi cầu viện quân Thanh. Sau này, chính Nguyễn Huệ lại đi đánh quân Thanh, đánh đuổi luôn cả Lê Chiêu Thống người chính Quang Trung Nguyễn Huệ đưa lên. Như vậy Nguyễn Huệ ra Bắc lần nào cũng liên quan đến vấn đề lập phế nhân sự, nhưng nhân sự do chính Nguyễn Huệ lập nên và chính Nguyễn Huệ phế đi.
Biên giới quốc gia không thay đổi gì sau các chuyến đi thần tốc từ Nam ra Bắc của Quang Trung Nguyễn Huệ, mà chủ yếu để dẹp tan các thế lực vùng miền. Lần ra Bắc đánh quân Thanh là cuộc chiến có tính quốc gia rõ ràng nhất, dù tính vùng miền của cuộc chiến này vẫn rất mạnh, chỉ là tính vùng miền của hai quốc gia. Tôn Sỹ Nghị và các tướng của nhà Thanh là đội quân có tính vùng miền cực kỳ rõ. Càn Long giao việc Tôn Sỹ Nghị muốn hỗ trợ Lê Chiêu Thống cho địa phương tự xử, đó là lý do quân của nhà Thanh không có sự thống nhất, có thể tháo chạy và rút lui ngay khi có biến mà không cần đợi lệnh từ kinh đô vì họ không phải là quân đội của vua được chỉ huy bằng các vị tướng trực tiếp dưới quyền vua, mà là tổ hợp quân đội tự huy động từ các vùng miền.
Một vị vua cần xác lập quyền lực của mình trên một biên giới lãnh thổ quốc gia. Từ một trạng thái đất gốc, mà thường là đất sinh của mình, một vị vua thiết lập được vùng đất gốc của triều đại mình mà được bảo vệ bằng biên giới quốc gia. Trạng thái đất, biên giới quốc gia của Quang Trung Nguyễn Huệ xác lập như một nhà vua quá biến động, qúa chồng chập. Như tên của mình, Quang Trung là một tâm điểm ánh sáng hay một mũi tên ánh sáng phát ra từ trung tâm nhưng biên của nó lại không rõ ràng (rạng thái này thường thấy ở một vị vua chạy ra khỏi kinh thành hay ra nước ngoài khi đất nước bị quân giặc xâm lược). Quang Trung chủ động không trụ tâm, không trụ kinh đô, mà đi thằng ra biên, tấn công trực tiếp quân thù, nhưng lại không giữ biên.
Thứ hai, hãy nói về gốc máu của triều đại Tây Sơn.
Phong trào Tây Sơn nổi lên từ Tây Sơn, là tên vùng đất và phong trào này không có đặc trưng dòng máu rõ ràng.
Tây Sơn Tam Kiệt mang họ Nguyễn nhưng lại đánh dòng họ Nguyễn các chúa Nguyễn, nên thể không gọi Tây Sơn là triều Nguyễn được.
Tây Sơn Tam Kiệt đổi từ họ Hồ sang họ Nguyễn, nhưng cũng không thể gọi họ là triều nhà Hồ, sau triều nhà Hồ của Hồ Quý Ly được.
Sau khi lên ngôi, Quang Trung cũng không làm truy nguyên dòng họ như các triều đại khác.
Triều đại Tây Sơn đã đánh đổ chúa Trịnh, chúa Nguyễn và vua Lê, không có nghĩa Triều đại Tây Sơn thực sự kết thúc ba triều đại Lê Trịnh Nguyễn này. Quang Trung chỉ lật đổ mà không chiếm ngôi như người đại diện cho họ của mình để lãnh đạo trăm họ, việc mà Hồ Quý Ly hay Mạc Đăng Dung đã làm.
Triều đại Tây Sơn không thay thế cho chúa Trịnh, chúa Nguyễn và vua Lê, như một triều đại kế tục, đại diện cho trăm họ, bởi vì triều đại này bản thân nó đã không đại diện cho một họ.
Gốc máu của Nguyễn Huệ không rõ ràng, mà thường thấy có ở một vị vua thông qua dòng họ của mình mà lãnh đạo trăm họ.
Thứ ba, quân đội của Nguyễn Huệ không thực sự mang đặc trưng của quân đội quốc gia. Ông đến đâu là lấy quân trên đường đi đến đó và luật bắt lính của ông rất nghiêm, nhiều người dân vì sợ mà phải hoặc vì quyền lợi mà chủ động theo chứ không phải vì họ coi ông là vua của họ, nên họ gia nhập quân đội do ông lãnh đạo. Một ông vua phải có chính sách lãnh thổ và chính sách rõ ràng về dân tộc, và chỉ lấy quân trên lãnh thổ mình quản lý và chỉ lấy người dân tộc Việt hoặc ít nhất là người định cư trên đất Việt. Như vậy quân đội của Quang Trung Nguyễn Huệ có các đặc trưng rất khác với quân đội quốc gia của các đời vua trước đó hay sau đó, mà thường cần những tiêu chí chặt chẽ về quốc gia và dân tộc hơn.
Thử so sánh với quân đội và lễ xưng vương của Lê Lợi với quân đội và lễ xưng vương của Quang Trung Nguyễn Huệ, có thể thấy cực kỳ rõ ràng sự khác biệt. Lê Lợi thì trường kỳ kháng chiến còn Nguyễn Huệ thì tốc chiến tốc thắng, có thể vì ông không bị vướng bận quá nhiều với việc dưỡng quân, dưỡng dân và bảo vệ biên đất trước và sau các trận chiến, như Lê Lợi.
Cuối cùng, một triều đại luôn có tính kế thừa. Trong lịch sử của đất nước và dân tộc, một triều đại kế thừa triều đại trước đó và đến lượt mình tạo ra giá trị để triều đại sau kế thừa. Sự kế thừa giữa các triều đại trong lịch sử xuyên suốt tạo nên sự phát triển liên tục và bền vững cho đất nước và dân tộc.
Như đã nói tính kề thừa dòng máu và lãnh thổ quốc gia của triều đại Tây Sơn không rõ ràng với ba triều đại của vua Lê, chúa Trinh và chúa Nguyễn. Trong lễ lên ngôi hoàng đế, Quang Trung Nguyễn Huệ không xác định triều đại này và vị hoàng đế này kế tục triều đại nào và vị hoàng đế nào trước đó. Trên góc độ này triều đại Tây Sơn rất giống với một cuộc nổi dạy xuất phát từ vùng đất Tây Sơn rồi lan ra khắp nơi nhờ thiên tài quân sự của Quang Trung Nguyễn Huệ.
TRUYỀN THỪA GỐC ĐẤT VÀ GỐC NƯỚC QUA CÁC TRIỀU ĐẠI VUA CHÚA
Nếu chúng ta coi việc Gia Long tìm kiếm hậu duệ của vua Lê, chúa Trịnh để giúp đỡ họ có thể tiếp tục có đất và nguồn lực để thờ tự tổ tiên đàng hoàng không chỉ là một hành động của một vị vua trăm họ lo cho một số họ, mà còn là sự xác lập tính kế thừa của nhà Nguyễn, thì có thể nói Gia Long đã xác định rõ ràng việc mình kế thừa dòng họ Trịnh và vua Lê để lập nên nhà Nguyễn từ gốc chúa Nguyễn của mình, không liên quan gì đến phong trào Tây Sơn.
Hành động xác lập sự kế tục của Gia Long với vua Lê và chúa Trịnh khác xa với hành động cương quyết chấm dứt triều đại Tây Sơn cũng của Gia Long. Tây Sơn Tam Kiệt đổi sang họ Nguyễn cho phép Gia Long chấm dứt triều đại Tây Sơn, như một tiểu triều đại địa phương của họ Nguyễn. Từ góc độ của người đại diện cho họ Nguyễn cần bảo vệ sư truyền thừa và thống nhất dòng máu của họ Nguyễn, việc kết thúc nhà Tây Sơn là một hành động quản trị nội bộ của dòng họ Nguyễn khi nội bộ dòng họ có vần đề. Chấm dứt nhà Tây Sơn cũng là một tích hợp nhà Tây Sơn ở tình trạng ly khai về gốc, bởi vì hai nhà chung gốc cả gốc họ (gốc nước) và gốc đất.
Nội bộ họ Nguyễn phải thống nhất trước, rồi họ Nguyễn mới có thể đại diện cho Trăm họ, ở vị trí vua và chúa. Cơ bản thì dòng họ nào muốn tồn tại và phát triển cũng phải vượt qua thử thách diệt họ từ người ngoài, hoặc từ người trong họ, hoặc từ người đổi họ như họ Nguyễn mà thôi. Ngoài ra, họ nào khi đứng lên làm vua hay làm chúa thì đều xảy ra chuyện anh em huynh đệ tương tàn, người ngoài họ cố tình gả vào họ làm dâu làm rể, người ngoài đổi họ sang họ vua và người ngoài trá con cháu dòng họ mình vào dòng họ vua. Đây là một sự thật lịch sử.
Việc Gia Long lấy Lê Thị Ngọc Bình, con gái của vua Lê Hiển Tông cũng là hành động xác nhận cực kỳ rõ ràng sự kế tục của vua Gia Long với triều đại nhà Lê, bỏ qua sự tồn tại của nhà Tây Sơn, vì nhà Tây Sơn chính thức đang mang họ Nguyễn.
Trước Gia Long, Lê Lợi đã xác định sự kế tục của mình với triều Trần, bỏ qua nhà Hồ. Việc này rất thuận lợi vì gốc của Hồ Quý Ly như sử sách hé lộ lại là họ Lê, Lê Quý Ly. Vai trò lịch của Hồ Quý Ly là kết thúc nhà Trần, không để dây dưa kéo dài các vua Trần bất tài (tức nhiên là chấm dứt là phải chiếm ngôi vì không có vua bất tài nào lại đủ năng lực và đủ tự nguyện nhường ngôi), đồng thời mở ra sẵn đường kế thừa cho dòng họ Lê. Chỉ riêng công lao này của Hồ Quý Ly đã là quá lớn.
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thực hiện một lễ kế tục triều đại từ nhà Nguyễn, với lễ thoái vị của vua Bảo Đại năm 1945 tại Ngọ Môn, Kinh thành Huế, khi Bảo Đại đọc chiếu thoái vị và trao ấn, kiếm cho đại diện của chính phủ. Sự kế thừa của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là liên tục và trực tiếp với nhà Nguyễn, không liên quan đến Nhật, Pháp hay bất kỳ thế lực ngoại bang nào. Sau này Bảo Đại tiếp tục làm là Quốc trưởng của Quốc gia Việt Nam (mà liên quan đến Việt Nam Cộng Hoà) và Thủ tướng Quốc gia Việt Nam, rõ ràng vì vai trò của ông như đại diện cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn, triều đại chính danh đại diện cho Việt Nam, nên chính quyền nào muốn có sự kế tục chính danh đều cần ông tham gia.
Như vậy các triều đại vua trong lịch sử của nước ta từ thời Lý tính theo cách các vị vua đầu triều xác lập tính kế thừa như sau Nhà Lý – Nhà Trần – Nhà Lê – Nhà Mạc – Nhà Nguyễn.
Bên cạnh truyền thừa dòng vua là cây truyền thừa dòng chúa mà không chỉ có chúa Trịnh, chúa Nguyễn, còn rất nhiều chúa (Giàng) của các đồng bào dân tộc như Chúa Mường, chúa Thái…..
Giữa hai dòng truyền thừa này, xuất hiện dòng thứ ba, có tính phân tách và chuyển đổi giữa hai dòng vua chúa chính, mà tiêu biểu là dòng nhà Hồ gốc Lê của Hồ/Lê Quý Ly, dòng nhà Hồ đổi sang Nguyễn (Hồ Thơm/Nguyễn Huệ) và có thể còn có dòng bác Hồ/họ Nguyễn mở ra để nhận kế thừa sau này. Có thể bổ sung dòng chúa Bầu (họ Vũ) và họ Mạc (lúc ở Cao Bằng) vào dòng truyền thừa chuyển đổi và kết nối này.
Dòng truyền thừa thứ ba, tạm gọi là dòng gốc gác để phân biệt với dòng vua (gốc đất) và dòng chúa (gốc nước), gọi chung cho cả đất nước là nguồn cội. Gốc gác tạm hiểu là gốc tạo ra do phân tách, chuyển đổi, chồng chập và kết nối giữa các nhánh gốc.
Ba dòng truyền thừa này có thể nói được lập gốc từ thời Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân.
Trong dòng truyền thừa nguồn cội, vai trò của đức Thánh Trần Hưng Đạo được thờ như Chúa Cha đối xứng với Mẫu Mẹ Liễu Hạnh và vai trò của Gia Long người kề thừa dòng chúa Nguyễn và khởi đầu dòng vua Nguyễn là cực kỳ lớn lao với cả đất nước và dân tộc Việt (mà gồm cả nhóm dân tộc Chăm dòng theo mẹ xuống biển hay Thủy Tinh).
Dòng gốc gác được đỡ bởi nhóm Tứ Bất Tử, những người giữ vai trò Thánh chúa hơn là vua chúa, Tôn ông hơn là vua quan. Nếu không có dòng thứ ba này, thì hai dòng truyền thừa này thì gốc máu (chúa) và gốc đất (vua) sẽ bị đứt lìa, suy vong và chấm dứt, do tình trạng mất nước quá nặng của Công nguyên. Vai trò của những người đứng mũi, chịu sào, xoay xở chèo lái cho sự liên tục dòng truyền thừa thứ ba là rất lớn, trong hoàn cảnh năng lượng Thuỷ Tinh bị suy trong Công Nguyên.
TRUY NGUYÊN LỊCH SỬ – TÌM VỀ GỐC
Mỗi triều đại lập ra đều là một mắt xích trong chuỗi mắt xích và một nhánh cây trong một cái cây, tạo sự phát triển liên tục của đất nước và dân tộc từ thời quốc tổ và thuỷ tổ, cho đến thời đại của chúng ta ngày nay. Nhờ sự liên tục của các mắt xích và các nhánh cây này, mà mỗi người dân Việt xác định được nguồn côi, gốc gác của mình, và vị trí của mình trên đất nước quê hương trên dòng chảy máu huyết dân tộc.
Những nhân vật đứng ở giao điểm hay tích hợp các dòng truyền thừa thường bị phủ nhận hoặc khẳng định sai bởi những con cháu có tư tưởng cực đoan một chiều về công tội, về đúng sai phải trái.
Khi một người không truy nguyên được chính dòng truyền thừa của mình, nói cách khác là mất gốc, nói chung thờ ơ với lịch sử dân tộc đất nước hoặc không nhận thức được rằng lịch sử dân tộc chứa đựng lịch sử dòng họ và bản thân.
Một số khác không coi lịch sử là câu chuyện về nguồn gốc của chính bản thân mình, mà coi lịch sử như một tập hợp thông tin, rồi tự mình đứng ngoài dòng chảy lịch sử để phán xét sự kiện lịch sử trên các thông tin này hoặc thông tin khác.
Điều hài hước hơn là nhiều người coi mình như ông chủ để định công định tội nhân vật lịch sử cứ như là nhân vật lịch sử là người làm công ăn lương cho mình hay coi mình là công tố và nhân vật lịch sử là nguyên đơn hoặc bị cáo trong phiên toà của mình.
Con cháu muốn có gốc cần phải biết ơn các triều đại cha ông đi trước với vai trò mà họ đã đóng góp trong tiến trình phát triển của đất nước và dân tộc, để bây giờ chúng ta được sinh ra có gốc, được tồn tại có gốc, được kế tục và tiếp nối cái gốc ấy cho hiện tại và tương lai.
Một số con cháu có động lực truy nguyên nguồn gốc cha ông nhưng bản thân lại mất gốc nên không tìm được về cha ông đầy đủ.
Một số người đang phủ nhận cái gốc của chính mình, thông qua việc phủ nhận những nhân vật lịch sử đã vất vả chèo lái để giữ được dòng truyền thừa ấy đúng với vai trò của nó, trong hoàn cảnh lịch sử vô cùng phức tạp, khác xa với lịch sử trên giấy hay lịch sử trên mạng.
Chia sẻ:
Scroll to Top