![]()
TẾT THANH MINH MỞ ĐẦU ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH CỦA ĐỜI KIỀU
Truyện Kiều có 2 phần
– Phần mở đầu giới thiệu chung Kiều và gia đình, cùng không thời gian của câu truyện đời Kiều
– Phần diễn biến câu truyện đánh số từ hồi 1 đến hồi 21
Đời Kiều nếu chia làm 3 giai đoạn thì truyện Kiều chỉ mô tả đoạn giữa mà được gọi là Đoạn trường tân thanh, đoạn tuổi thơ trước đó và đoạn đời sau đó không được mô tả. 3 giai đoạn đời Kiều là
– Thanh xuân ở với gia đình
– Đoạn trường tân thanh : được mô tả từ hồi 1 đến hồi 21 của truyện Kiều
– Trở về với gia đình và Kim Trọng sau lưu lạc
Hồi 1 mở đầu cho diễn biến Đoạn trường tân thanh kể về sự kiện Kiều đi chơi Tết Thanh Minh. Tết Thanh Minh mở đầu một năm Tiết Khí. Tết Thanh Minh cũng mở đầu cho mạch Truyện Kiều (bởi vì trước đó là phần giới thiệu chung về không thời gian và nhân vật của Truyện Kiều như đã nói). Từ sự kiện đi chơi Tết Thanh Minh này, lưu lạc trong Đoạn trường tân thanh của Kiều mới bắt đầu.
Tảo mộ viếng Đạm Tiên, bâng khuâng tình tứ;
Du xuân gặp Kim Trọng, bẽn lẽn duyên ta
Hồi 1 (Kiều đi chơi Tết Thanh Minh) chia làm 3 phần
– Phần mô tả chung về Tết Thanh Minh
– Phần hai mô tả hai sự kiện Tảo mộ và Đạp Thanh
– – – Tảo mộ : Kiều gặp Đạm Tiên
– – – Đạp thanh : Kiều gặp Kim Trọng
Kiều với các thông điệp nhắn nhủ bởi Đạm Tiên qua các giấc mơ và tình yêu với Kim Trọng đã trải qua Đoạn trường tân thanh từ Tết Thanh Minh cho đến lúc trẫm mình trên sông Tiền Đường.
CẢNH THANH MINH
Trong đoạn thơ 12 câu mô tả cảnh Thanh Minh
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Thanh minh, trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nen.
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay.
Hai cầu đầu mô tả nhịp điệu và âm tần của Thanh Minh, chính là biểu tượng chữ S trong vòng tròn âm dương
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Hai câu sau mô tả cấu trúc và sắc thái của Thanh Minh, chính là biểu tượng Tứ tượng
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Hai câu sau nữa (câu 5, 6) nêu hai hoạt động chính của Tết Thanh Minh là Đạp thanh và Tảo mộ
Thanh minh, trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
Hai câu tiếp theo (câu 7, 8) là trường năng lượng và cấu trúc cơ bản của Thanh Minh
Gần xa nô nức yến anh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Hai câu 9, 10 của đoạn này là cảnh hội Đạp Thanh
Dập dìu tài tử, giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nen.
Hai câu cuối cùng (11, 12) là cảnh lễ Tảo Mộ
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay.
– NGÀY XUÂN CON ÉN ĐƯA THOI :
Chim én là biểu tượng của mùa xuân. Thấy cánh chim én chao trên bầu trời là biết xuân về. Thanh Minh là tiết khí thứ 5 của mùa xuân tính từ Xuân Phân và là tiết khí liền sau của Xuân Phân. Tết Thanh Minh thường đến khi mùa xuân đã đi được quá nửa nói cách khác là Thanh Minh xảy ra cánh én mùa xuân đã đưa thoi đưa được nhiều lần, mùa xuân chả mấy chốc nữa sắp kết thúc.
Nhịp cánh chim én chao liệng là biểu tượng của nhịp ngày mùa xuân.
Cánh chim én không chỉ là biểu tượng của mùa xuân đến mà còn là biểu tượng của nhịp điệu rất nhanh của mùa xuân, mà mùa xuân là biểu tượng cho thời thanh xuân và giai đoạn mở đầu cho một chu kỳ sống. Nhịp nhanh của mùa xuân được mô tả trong dân gian ” Ngày xuân ngắn chẳng tày gang” hoặc “ngày xuân thấm thoắt thoi đưa”. Cái thoi thường được làm hình con chim én và cách đưa thoi cũng giống như cách bay nhanh của chim én. Cánh én nhịp cánh thoi đưa, cứ từ trái qua phải rồi từ phải qua trái, như nhịp điệu của ngày xuân, cứ từ sáng đến đêm, rồi lại từ sáng đến đêm, trôi qua rất nhanh.
Để hiểu nhịp đưa thoi, hãy so sánh nó với là nhịp đưa nôi, từ điểm cân bằng ở chính giữa chiếc nôi được đưa sang phải rồi sang trái, Nhịp thoi khác hẳn, chuyển từ cực biên phải sang cực biên trái, chỉ đi qua điểm ở giữa. Nhịp đưa thoi là nhịp thái cực, trong khi nhịp đưa nôi là nhịp bình hoà. Nhịp đưa thoi là nhịp nhanh, mạnh, dứt khoát, sôi động, có tính kim, nhịp thức, nhịp ban ngày; trong khi nhịp đưa nôi là nhịp chậm, nhẹ nhàng, mềm mại, có tính mộc, của giấc ngủ ban đêm.
Thuyền én hay thuyền đuôi én là một loại thuyền độc mộc mảnh mai thuôn dài với phần đuôi vút nhọn lên như đuôi chim én. Đây là loại thuyền truyền thống của người dân tộc Thái Trắng sống vùng ven sông Đà ở các tỉnh Tây Bắc như Lai Châu, Điện Biên, Sơn La. Thuyền én nhỏ nhẹ nhưng lại chịu được lực va đập, nên có thể luồn lách trong dòng nước dữ, giữa các tảng đá nhô lên giữa lòng sông và xuyên qua các thác ghềnh và lốc xoáy đáy sông.
Thuyền én là loại thuyền đi dọc, xuôi và ngược dòng. Khi đi ngược dòng, các tay chèo phải hò nhau cùng chèo để thuyền ngược dòng chảy vượt lên phía trước. Lúc đi xuôi, thuyền én lướt sóng lao như bay, nhưng vẫn nhanh nhẹn tránh được các vật cản và lốc xoáy cùng sóng dữ.
Đến các đoạn lắm thác ghềnh, hoặc có đá lớn chặn dòng, người đi thuyền có thể đưa thuyền lên bờ, mang thuyền trèo đèo lội suối cho đến khi gặp dòng nước sâu hơn, bằng phẳng hơn, thuyền én lại được thả xuống nước đi tiếp. Như vậy thuyền én là loại thuyền đi được cả trên cạn và dưới nước, có lúc thuyền chở người, có lúc người vác thuyền, nương tựa vào nhau để cùng vượt dòng sông dữ.
Thuyền én là một biểu tượng văn hoá, đi vào các lễ hội dân gian vùng sông Đà và liên quan đến thuyền đuôi chim mô tả trên trống đồng Đông Sơn.
Thuyền én là biểu tượng của tinh thần vượt thác ghềnh, ba chìm bảy nổi qua sóng to gió lớn, thậm chí phải vượt cạn, để đi xuyên suốt từ đầu đến cuối một vận hành trọng yếu nhưng cực kỳ trắc trở, mà theo ngôn ngữ truyện Kiều là Đoạn trường tân thanh.
Cánh chim én, mảnh mai nhỏ bé nhưng nhanh nhẹn, dũng cảm và bền bỉ không ngừng, để làm nên không chỉ mùa xuân mà cả một chu kỳ sống không chỉ có tân thanh mà còn có cả đoạn trường trong truyện Kiều không phải là ai khác mà chính là nàng Kiều.
– THIỀU QUANG CHÍN CHỤC ĐÃ NGOÀI SÁU MƯƠI
Trong khoảng 90 ngày mùa xuân tính từ Xuân Phân (“thiều quang chín chục”), Tết Thanh Minh là ngày của tiết khí thứ 5, nghĩa là “ngoài sáu mươi” ngày tính từ Xuân Phân (15 ngày/tiết khí x 4 tiết khí).
“Thiều quang” thường được hiểu là ánh sáng tươi đẹp của mùa xuân, nhưng hiểu như vậy là chưa đi được cái gốc của “thiều”, mà liên quan đến năng lượng và thời kỳ có tính nền tảng trọng yếu của một chu kỳ sống. Thiều quang là trường năng lượng nền của mùa xuân, mà không kết thúc trong mùa xuân, chỉ chuyển hoá hay ẩn đi trong mùa hè, mùa thu, mùa đông, nói cách khác thiều quang của mùa xuân kéo dài cả năm. Thiều quang của mùa xuân có thể kéo dài theo những chu kỳ rất dài trải bao xuân hạ thu đông mà lấy mùa xuân ấy làm điểm khởi đầu.
Chữ “thiều” xuất hiện trong nhiều ngữ cảnh mô tả màu sắc và âm thanh tươi đẹp và tràn ngập tính tương tác âm dương, ví dụ
– “Thiều” : tóc trái đào, trẻ con để tóc trái đào, tuổi để tóc trái đào
– “Thiều” : màu hồng điều, màu hồng cam, màu đào, với đào nay là nghĩa đào nguyên (tương đương như nguyên thuỷ) và cam là máu nóng xuất ra ngoài
– “Thiều” : đối tượng cao tít (quan trọng), thời kỳ xa tít (cổ xưa) của một chu kỳ sự sống lớn, ví dụ với người Việt tự nhận nguồn gốc của mình là con rồng cháu tiên, thì thời kỳ rồng tiên đó gọi là “thiều”
– “Thùy thiều” là mái tóc trái đào buông xuông của trẻ con, mà phản ánh tần số của làn da và hào quang của đứa trẻ, phản ảnh tần số máu nền của đứa trẻ đó, nhạc nền của đứa trẻ đó, bởi vì thời đó tóc của đứa trẻ là tóc máu.
– “Thiều hoa” là cảnh hoa mùa xuân, hoặc thời tuổi trẻ nở hoa, tuổi hoa. Thiều hoa nói chung là giai đoạn dạy thì, bắt đầu từ sau lễ dứt căn (khoảng 12 tuổi) ở cả nam vừa nữ và giai đoạn thiều hoa dạy thì này có thể kéo dài vài năm đến 16 hoặc 18 tuổi.
– “Nhạc Thiều” là nhạc thời vua Thuấn, trong Tam Hoàng Ngũ Đế. Trong sử Hồng Bàng, đây là giai đoạn Đế Minh sinh Kinh Dương Vương, Kinh Dương Vương sinh Lạc Long Quân và Lạc Long Quân sinh bọc trăm trứng, nghĩa là giai đoạn hình thành nên đất nước và dân tộc Việt. Thanh âm nền của giai đoạn “thiều hoa” này của đất nước và dân tộc Việt là “nhạc thiều”.
– “Quốc thiều” là nhạc thiều của quốc gia, cụ thể hơn đó là phần nhạc của một bài quốc ca, hay là một bài quốc ca không có lời. Quốc thiều thường được sử dụng để mở đầu các buổi nghi lễ của các cơ quan nhà nước; lễ kéo cờ ở các công sở, trường học; lễ đón nhận các nguyên thủ quốc gia nước khác đến thăm chính thức nước sở tại. Quốc thiều đại diện cho âm nền, nhạc nền của một quốc gia, mà liên quan đến dòng máu của những người dân của quốc gia ấy. Quốc thiều là thanh âm tổng hợp của các sắc tộc sống trên một quốc gia, nên có sự đối xứng với tên của quốc gia đó.
– “Vải thiều” là loại vải truyền thống ngon nhất của miền Bắc, với màu vỏ có sắc hồng vàng rất đẹp và thơm ngon. “Vải” liên quan đến ông bà ông vải. “Thiều” liên quan đến máu nguồn, máu gốc, hoặc cái biểu hiện ra của màu nền máu gốc.
– “Cá thiều” là một loại cá ngon, mang màu sắc và thanh âm nền của biển mùa cá sinh sôi nảy nở.
“Thiều quang chín chục” có thể hiểu là chín mươi ngày xuân, khi trăm hoa đua nở, bắt đầu một chu kỳ sống mới. Chín mươi ngày mùa xuân này có sự non trẻ của giai đoạn bắt đầu, vừa có sự chín chắn, tròn trịa và đủ đầy của con số “chín chục”. Có thể hiểu “thiều quang chín chục” là sự tròn trịa, đầy đầy đủ, chín chắn của giai đoạn đầu đời, tuổi thiều hoa. Ví dụ trường năng lượng gốc, của thời kỳ phôi dâu mà diễn ra trong khoảng 1 tuần sau thời điểm taọ hợp tử chính là “thiều quang chín chục” của thời kỳ bào thai mà kéo dài khoảng chín tháng, “chín tháng mười ngày” của thai kỳ lại là “thiều quang chín chục” của cả đời người.
“Thiều hoa” là giai đoan cuối của “Thiều quang chín chục” mà đạt đỉnh sau Thanh Minh. “Thiều quang chín chục”, đặc biệt là “thiều hoa” tuy ngắn ngủi như ngày xuân con én đưa thoi, và có thể rất ẩn, nhưng lại chứa đựng tất cả những nền tảng của toàn bộ chu kỳ sống.
Cùng đọc lại cả hai câu thơ
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Thiều hoa rực rõ của đời Kiều bắt đầu với sự kiện Thanh Minh mà Kiều gặp Đạm Tiên và Kim Trọng. Giai đoạn tươi đẹp của đời người thiếu nữ với những buổi hẹn hò bí mật với Kim Trọng nhanh chóng kết thúc như “ngày xuân con én đưa thoi”, khi nhà Kiều lâm nạn và Kiều phải bản mình chuộc cha. Người thiếu nữ Kiểu chưa kịp hưởng thụ tình yêu đã bắt buộc phải trở thành người đàn bà trầm luân.
Giai đoạn bắt buộc phải trở thành đàn bà với nhiều người đàn ông khác nhau, nhưng không phải người mình yêu ban đầu, cảm xúc và thân thể phải đau đớn chết đi sống lại nhiều lần đó của Kiều gọi là “đoạn trường tân thanh”.
Thanh âm cặp đôi trong giai đoạn “Đoạn trường tân thanh” nhiều lần (đoạn trường) thay đổi (tân thanh), nhưng âm nền ẩn của nó vẫn là “nhịp cánh én đưa thoi” và tần số “thiều quang”. Nói cách khác, Đạm Tiên và Kim Trọng, hai người Kiều gặp trong Đoạn trường tân thanh bằng tinh thần, bằng cảm xúc, bằng lý trí, bằng ý chí, bằng ký ức, vẫn đi suốt cùng kiều qua những năm thăng thăng trầm, bởi vì họ mới là bộ tịnh đế, bộ đôi gốc của Kiều.
Giai đoạn sau Thanh Minh trước Đoạn trường tân thanh của đời Kiều ứng với ba mươi ngày xuân sau Tết Thanh Minh và trước mùa hạ. Nhịp nền của giai đoạn này vẫn là “ngày xuân con én đưa thoi”, nghĩa là cực kỳ nhanh và dứt khoát.
Giai đoạn sau Thanh Minh trước Đoạn trường Tân Thanh này trong đời Kiều được mô tả trong Hồi 2 (Kiều mơ gặp Đạm Tiên) và Hổi 3 (Kiều thề nguyền với Kim Trọng), sau Hồi 1 (Kiều đi chơi Tết Thanh Minh).
– CỎ NON XANH TẬN CHÂN TRỜI
Màu xanh cỏ và màu xanh trời là cặp đôi âm dương
– Cỏ non có màu xanh, xanh lá cây, xanh lục. Bầu trời có màu xanh, xanh da trời, xanh thiên thanh.
– Nền của cỏ xanh là màu đất đen, cỏ xanh là xanh trong đen. Nền của bầu trời là màu trắng, trời xanh là xanh trong trắng
– Màu xanh da trời là xanh dương, xanh trời. Xanh cỏ là xanh âm, xanh đất.
– Xanh da trời là màu xanh bao trùm dương gian, hay thế giới của những người dương sống trên mặt đất. Xanh cỏ là màu xanh bao trùm mặt đất, bao trùm thế giới âm của những người đã mất đang nằm dưới mộ (mồ xanh cỏ).
Cỏ trên mặt đất là sàn của trời và trần của đất, cho nên cỏ chính là biên giữa hai thế giới âm dương trời đất. “Cỏ non xanh tận chân trời” trong Tết Thanh Minh nghĩa là ở đường chân trời, hai sắc xanh âm dương hoà vào nhau, mở ra đường biên tiếp xúc giữa hai thế giới mà bình thường âm dương cách biệt.
Thanh Minh là trạng thái âm trong dương, âm trùm dương làm nổi bật nhau, làm rõ ràng nhau, làm thông suốt nhau, mà vẫn tách biệt âm ra âm và dương ra dương, mà được mô tả rõ nét nhất bằng biểu tượng tứ tượng (vòng tròn âm dương với biên chữ S ở giữa hai nửa đen trăng, trong nửa trắng có tâm đen và trong nửa đen có tâm trắng). Tiết Thanh Minh, là thời điểm cỏ non phát triển mạnh nhất trong ba tháng mùa xuân, chọc thủng lớp biên trời đất, mở ra trạng thái song hành giữa thế giới âm và thế giới dương. Điều này có nghĩa là ở đâu không có cỏ, ở đó mồ không yên, mả không đẹp; ở đâu không có cỏ, đất trời âm dương cách biệt, ở đâu không có cỏ, không thể có Tết Thanh Minh.
Cỏ mà chúng ta cần tiếp xúc trong Tết Thanh Minh thực sự là gì ? Một cây cỏ có tên cụ thể như cỏ gà, có tre….? Một thảm cỏ, một bãi cỏ hay một đồng cỏ ? Câu thơ của Nguyễn Du cho câu trả lời rõ ràng : Cỏ trong Tết Thanh Minh là “đồng cỏ”, “rừng cỏ”, “trường cỏ”, “thế giới cỏ”, “xứ sở cỏ”, làm nên lớp lông tơ trên làn da của Trái đất. Câu “Thấy cây mà không thấy rừng”, dành cho những người chỉ thấy cây cỏ, thảm cỏ, bãi cỏ, đồng cỏ với loại cỏ cụ thề này loại cỏ cụ thể khác, mà không thấy được cả một thế giới cỏ như một lớp thảm nền bao phủ toàn Trái đất, là nền tảng cho mọi rừng cây, cho mọi hệ sinh thái trên hành tinh này.
Tết Thanh Minh sẽ không được mở ra khi
– Về khách quan trong không gian sống bị suy, cỏ bị suy. Trạng thái này xảy ra trong bốn trường hợp
– – – Thế giới dương suy hoặc/và
– – – Thế giới âm suy
– – – Biên giữa hai thế giới âm dương bị suy gây ra hiện tượng, một là âm dương nhập nhèm, chập cheng gây ra các hiện tượng vong nhập, thày bà đồng cốt không đồng háo với thần mà đồng hoá với vong ma; người dương súng bái thế giới âm, xin xỏ thế giới âm, sợ hãi về thế giới âm, vọng tưởng về thế giới âm
– – – Biên giữa hai thế giới âm dương bị suy, gây ra âm dương cách biệt theo nghĩa không tiếp xúc được với nhau, không hiểu nhau, thù địch nhau, người sống không muốn cái chết, không chăm lo trạng thái sau khi chết và trước khi đầu thai của mình
– Về chủ quan : Con người không nhận thức được trạng thái “rừng cỏ”, không chạm được tinh thần của cỏ, không bước vào được thế giới của cỏ
Tiếp theo hãy nói về trời trong Tết Thanh Minh, mà nổi tiếng với bầu trời xanh trong và nắng tưởng là nhẹ mà cực kỳ khốc liệt.
Sự trong xanh của bầu trời trong tiết tháng ba cho phép có thể nhìn được đường chân trời ở các khoảng không mở rộng và bằng phẳng như cánh đồng hay mặt biển. Trên mặt đất có cỏ, thì trên mặt nước cũng có cỏ, là bèo hoặc tảo.
Ca dao xếp nắng tháng ba, là dịp có tiết Thanh Minh là loại “nắng nhất”.
Tháng giêng là nắng hơi hơi
Tháng hai là nắng giữa trời nắng ra
Thứ nhất là nắng tháng ba
Tháng tư có nắng nhưng mà nắng non
Tháng năm nắng đẹp nắng giòn
Tháng sáu có nắng bóng tròn về trưa
Tháng bảy là nắng vừa vừa
Tháng tám là nắng tờ ơ thế này
Tháng chín nắng gắt nắng gay
Tháng mười có nắng, nhưng ngày nắng không
Tháng một là nắng mùa đông
Tháng chạp có nắng nhưng không có gì
Nắng nhất của tháng ba là nắng bạc, phản quang chói trên các bề mặt kim loại hoặc mặt nước, nắng bạc có thể gây cháy da ngay cả trong điều kiện trời âm u mát mẻ.
Nắng tháng ba không hợp với làn da động vật, sẽ làm cháy da, mất nước.
Năng tháng ba chó già lè lưỡi
Nhưng nắng tháng ba lại đặc biệt hợp với cỏ và hoa, vì tháng ba là thời khắc trăm hoa đua nở, cỏ mọc xanh tươi đến tận chân trời.
Nắng tháng ba, hoa chẳng héo
Ở các khoảng không đóng kín, mà con người sống trong đó không được tiếp xúc với nắng gió và bầu trời, cũng chẳng tiếp xúc với mặt đất xanh cỏ, thì trạng thái Thanh Minh sẽ bị khoá. Đây chính là trạng thái nhà đất hiện tại, thì nhà xây hết biên đất, không có vườn ao, không đón nắng gió, không gần cánh đồng, không có không gian mở, thậm chí là những chuồng chim lơ lửng trong cái hộp chung cư.
– CÀNH LÊ TRẮNG ĐIỂM MỘT VÀI BÔNG HOA
Hoa lê là hoa đặc trưng của tiết Thanh Minh, hoa lê có màu trắng rất sáng, là sự cụ thể hoá của tần số nắng bạc tháng ba. Ở đâu có hoa lê nở, ở đó không gian như bừng sáng. Cảnh hoa lên điểm xuyết trong màu nền xanh của cỏ và trời chính là bức tranh xứ sở của Thanh Minh. Cành lê màu đen, khô cứng, điểm xuyên những bông hoa lê năm cánh tươi trẻ, trắng sáng thực là một cảnh tương phản tuyệt đẹp.
Có một điều thú vị là lê thì hoa lê màu trắng sáng, tạo nên những điểm tâm của không gian, nhưng nghĩa của từ lê là đen xạm, dành cho trạng thái nền, trang thái biên, bị che mờ, bị át đi, bị chìm xuống vì trạng thái biên. Vì nghĩa này, nên mới có từ “lê dân” nghĩa là dân đen.
“Lê” thực ra là một sắc thái lưỡng nghi
– Sắc đen trắng sáng của trạng thái đa tâm
– Sắc đen xám của trạng thái biên nền
“Lê” có những nghĩa gì ?
– Lê : màu trắng tinh khôi, rực rỡ,
– – – Hoa lê, quả lê, cây lê
– – – Lê minh : trời tờ mờ sáng.
– Lê : trạng thái tối tăm ví dụ của bầu trời, đen xạm, là trạng thái đen nền ví dụ của làn da hay
– – – Lê dân : dân đen với lê có nghĩa là đen, hoặc dân thường với lê có nghĩa là số đông bình thường hoặc người sống bên rìa, đối diện với trung tâm là vua chúa, quan chức
– Lê : trạng thái vận hành cực kỳ chậm, kéo dài, không có điểm khởi đầu và điểm kết thúc rõ ràng giữa các chu kỳ hay các nhịp, tạm gọi là trạng thái xám giữa trắng và đen
– – – Lê chân, lê thân
– – – Lê thê, lê lết
Định mệnh của triều Lê là như vậy, kèo dài lê thê từ đen sang trắng, rồi lại từ trắng sang đen, hoặc các trạng thái xám xit, hoặc tờ mờ sáng, dài hơn bất kỳ triều đại nào trong lịch sử Việt trong Công Nguyên
– Vua Lê đi với chúa Nguyễn là Lê trắng
– Vua Lê đi với chúa Trịnh là Lê đen
Quay lại hai câu thơ của Nguyễn Du
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
– Sắc lê trắng nổi bật trên nền trời xanh, mà màu nền là trắng (nước mây trắng)
– Cành lê đen nổi bật trên màu cỏ xanh, mà màu nền là đen (đất đen).
Nhờ “cành lê trắng điểm một vài bông hoa” mà hai sắc đen trắng đã chuyển từ màu nền sang sắc thái trọng tâm và màu nổi lại chuyển thành màu nên. Như vậy, Thanh Minh là thời khắc màu tái sinh màu nền ở trạng thái khác. Trong vận hành máu, thì chu kỳ màu nền ẩn đi, rồi lại tái xuất như màu trọng tâm, còn màu trọng tâm lại thành màu nền chính là giai đoạn gen lặn trở thành gen trội rồi gen trội lại thành gen lặn. Đây là trạng thái phục sinh nay vượt qua. (Lưu ý rằng lễ Thanh Minh tương đương với lễ Phục Sinh trong đạo Thiên chúa và lễ Vượt Qua trong đạo Do Thái).
Trong vận hành của Vòng tròn âm dương, trạng thái nền tâm, lặn trội này liên quan đến Tứ tượng. Cấu trúc Tứ tượng xuất hiện khi trong nửa trắng của lưỡng nghi xuất hiện chấm đen, còn trong nửa đen xuất hiện chấm trắng. Nếu chấm trắng trong nền đen lớn dần cho đến khi bao trùm nền đen, thì trắng lúc này lại thành lớp nền thứ hai, rồi chấm đen (màu nền 1 đã lặn đi) lại xuất hiện trên nền trắng thứ 2 này, trở thành màu nổi, màu trội. Đây là quá trình xuất hiện trong lễ Thanh Minh được đặc tả bằng 2 câu thơ
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Ghép cả hai câu thơ chúng ta sẽ thấy chuyển hoá của sắc đen và sắc trắng từ trội thành lặn và ngược lại, qua sắc xanh
– Bộ Cỏ xanh – Đất đen
– – – Đất đen cuối đông, lác đác vài cỏ, chìm hoàn toàn vào màu đen này. Đen lúc này là màu nền trội, xanh cỏ là màu tâm ẩn.
– – – Cỏ phát triển mạnh vào mùa xuân, đầu tiên tạo thành các mảng xanh như các trọng tâm trên nền đất đen, lúc này xanh cỏ là màu tâm, đất đen là màu bao nền, cả hai đều hiện
– – – Trong Thanh Minh, cỏ sẽ bao trùm đất, và đất hoàn toàn thành màu nền ẩn, và cỏ xanh lại thành màu nền nổi phủ lên trên đất
– – – Lúc này trong khung cảnh xuất hiện cành hoa lê màu đen điểm hoa lê màu trắng, nổi bật trên nền xanh. Màu đen của đất giờ tái xuất hiện thành màu của cành hoa lê. Cả đen và xanh lúc này đều hiện. Đây là trạng thái chuẩn của Tết Thanh Minh
– – – Về cấu trúc có 3 lớp màu : đất đen nền ẩn – xanh cỏ nền hiện – đen cành lê đen nổi. Về vận hành, xanh chuyển từ trạng thái tâm ẩn sang tâm nổi, rồi nền nổi, còn đen chuyển từ trạng thái nền nổi sang nền lặn, rồi sang tâm nổi.
– Bộ Trời xanh – Nước trắng
– – – Trời trắng mờ đục cuối đông chỉ lác đác vài mảng xanh sẽ trở nên trong xanh trong dần khi. Trắng lúc này là màu nền trội, xanh là màu tâm ẩn
– – – Trên nền trời trắng, các mảng xanh rõ nét dần, lúc này trắng vẫn là nền và xanh là tâm, cả hai đều hiện
– – – Khi trời chuyển hết sang xanh vào Tết Thanh Minh, thì xanh trở thành màu nền trội, trùm lên trắng màu nền ẩn
– – – Khi cành lê đen điểm hoa lê trắng xuất hiện, trắng lại thành màu tâm hiện, và xanh lại thành màu nền cũng hiện. Đây là trạng thái chuẩn của Tết Thanh Minh
– – – Về cấu trúc có 3 lớp màu : trời trắng nền ẩn – trời xanh nền hiện – hoa lê trắng nổi. Về vận hành, trời xanh chuyển từ trạng thái tâm ẩn sang tâm nổi, rồi nền nổi, còn trắng chuyển từ trạng thái nền nổi sang nền lặn, rồi sang tâm nổi.
Đây chính là các vận hành khí tiết/máu rất phức tạp vào Tết Thanh Minh.
– THANH MINH TRONG TIẾT THÁNG BA
Tiết Thanh Minh là tiết khí thứ hai, trong 24 tiết khí của một năm âm dương lịch với Xuân Phân là tiết khí gốc, tiết khí thứ nhất, còn Kinh Trập là tiết khí 0 mà cũng là tiết khí cuối cùng số 24, và Cốc Vũ là tiết thứ ba.
Nếu tính điểm Xuân Phân (kinh độ Mặt Trời bằng 0°) là gốc thì khởi đầu của tiết Thanh Minh là điểm kinh độ Mặt Trời bằng 15°. Trái đất đi thêm một góc 15°, so với kinh độ gốc là đến điểm khởi đầu của tiết khí tiếp theo và Trái Đất quay hết một vòng 360° quanh Mặt trời sau 1 năm 24 tiết khí (24×15°), lại quay về kinh độ gốc Xuân Phân. Hạ Chí là điểm 90°, Thu phân là điểm 180° đối xứng với Xuân Phân và Đông Chí là điểm 270° đối xứng với Hạ Chí.
Thanh Minh là tiết khí duy nhất có Tết. Tết Thanh Minh là ngày mở đầu của tiết Thanh Minh. Tết Thanh Minh chính là ngày khởi đầu cho một năm tiết khí, mà đi từ Xuân Phân năm nay đến Xuân Phân năm sau.
Tiết khí ứng với Tết Nguyên Tiêu vào rằm tháng Giêng (15 ngày sau Giao thừa)
Điểm Xuân phân rơi vào ngày 20 – 21/3, Tết Thanh Minh rơi vào khoảng ngày 4/4 hoặc 5/4 dương lịch (năm nhuận). Tính theo âm lịch rơi vào khoảng từ sớm nhất là giữa tháng Mão (tháng Hai) đến muộn nhất là giữa tháng Thìn (tháng Ba).
Năm Bính Ngọ 2026, Tết Thanh Minh là chủ nhật ngày 5/4 dương lịch, tức ngày 18/2 âm lịch.
Tiết khí là gì ?
– Tiết là máu thổ huyết xuất ra khỏi biên và vận hành ngoại biên, ví dụ ở người là kinh nguyệt, sữa, trứng và tinh trùng.
– Khí là máu khí huyết xuất ra khỏi biên và vận hành ngoại biên, ví dụ hơi thở bên ngoài cơ thể và các luồng điện từ bên ngoài cơ thể.
Tóm lại, tiết khí là máu huyết của Trái đất xuất ra khỏi biên và vận hành ngoại biên.
Các tiết khí trước sau Tết Thanh Minh tạo nên vận hành cơ bản của vòng tròn âm dương
– Kinh Trập tương ứng với Vòng tròn âm dương
– Xuân Phân tương ứng với Lưỡng Nghi
– Thanh Minh ứng với Tứ Tượng
– Cốc Vũ ứng với Bát quái
Tứ tượng là biểu tượng rõ nét nhất của Thanh Minh :
– Tứ tượng có âm dương phân tách rõ ràng thành hai thái cực, mà vẫn song hành với nhau.
– Tứ tượng có âm trong dương, dương trong âm, âm dương làm nổi bật lẫn nhau và bao bọc lẫn nhau, là trạng thái âm dương hợp nhất
– Âm dương vừa song hành, vừa bao bọc, vừa vô cực, vừa lưỡng cực, nên có thể tương tác và chuyển hoá được cho nhau ở tất cả các trạng thái
Trong chu kỳ đời người
– Kinh Trập là Hợp tử Vòng tròn âm dương
– Xuân Phân là Phôi dâu Lưỡng nghi
– Thanh Minh là Phôi thai Tứ tượng (Thân Rốn Ối Nhau)
– Cốc Vũ là Bát quái hay trạng thái sau sinh mà mỗi mảnh của tứ tượng lại thành lưỡng nghi
Thanh Minh nghĩa là gì ?
Chữ Hán: 清明,
– thanh (清) trong thanh lọc, thanh khiết, mang nghĩa là “sạch sẽ” hay “trong lành”, không phải thanh (青) mang nghĩa là “màu xanh lam”
– minh (明) mang nghĩa là “tươi sáng”
Thanh Minh trong chữ tượng hình không đầy đủ nghĩa bằng tượng thanh nên ở đây giải thích bằng chữ tượng thanh
THANH có đủ âm hình mùi vị
– Thanh : âm
– – – thanh âm, âm thanh
– – – thanh điệu (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, bằng)
– – – âm thanh là âm trong, mỏng, nhẹ, mềm nhưng có thể sắc (đối xứng với âm đục, dầy, trầm, nhưng êm)
– – – thanh quản, nắp thanh môn
– Thanh : hình sắc
– – – thanh : màu nhạt, màu sáng, màu trong, gần với sắc trắng
– – – thiên thanh : xanh lam/da trời nhạt, trong và sáng
– – – thanh xuân : màu xanh non của cỏ cây mùa xuân, tiết thanh minh
– – – thanh mảnh
– Thanh : mùi
– – – mùi thanh là mùi nhẹ và mát, ngược với mùi trầm, đậm, thường là nóng
– Thanh : vị
– – – vị thanh là vị
THANH đủ vật chất và tinh thần
– Thanh : vật chất
– – – thanh kiếm, thanh đao, thanh chuỳ
– – – thanh gỗ, thanh sắt
– – – thanh : cỏ mọc trên đất (cỏ mọc và nổi trên nước thường được gọi là rong rêu, táo hay bèo
– Thanh : tinh thần
– – – thanh bạch
– – – thanh đạm
– – – thanh thuỷ
– – – thanh tú
THANH đủ cấu trúc không gian và thời gian vận hành
– Thanh : không gian, cấu trúc
– – – không gian có luồng hoặc trục xuyên suốt
– Thanh : thời gian, chu kỳ
– – – Thanh : thời gian có luồng hoặc các chu kỳ xuyên suốt
– – – Thanh xuân : thanh thường gắn với sự khởi đầu, tiết khí đầu, mùa xuân đầu năm và tuổi trẻ của một chu kỳ hay luồng xuyên suốt là cuộc đời
MINH : là trạng thái cân bằng và đầy đủ âm dương
– Minh (sắc thái) : Minh không chỉ là sáng sủa, minh vừa là tối, vừa là sáng, nhưng cái gì cũng rõ ràng, và dù có sáng trong tối và tối trong sáng thì trạng thái này cũng rõ ràng.
– – – Thông minh thường gắn với sáng sủa, hiển lộ (minh dương, minh sáng)
– – – U minh thường gắn với âm u (minh âm, minh tối)
– – – Tường minh là phân định rõ ràng sáng tối, cái nào cũng định được trạng thái của nó, không chồng chập, không nhập nhoạng, ví dụ đen ra đen, trắng ra trăng, trăng trong đen, đen trong trắng rõ ràng như tứ tượng, không có trạng thái xám ghi nhờ nhờ
– – – Minh sát : quan sát hiện thực như nó chính là
– – – Minh triết : triết/chiết cũng là phân tách ra rõ ràng đen ra đen, trắng ra trắng
– – – Bình minh : Đêm là trạng thái biên, bầu trời đêm, ngày là trạng thái tâm, mặt trời, mình là trang thái xuyên suốt ngày và đêm, bình là trạng thái bình hoà, cân bằng ngày và đêm. Bình mình là kết thúc ban đêm, bắt đầu ban ngày.
– Minh
– – – Minh ty : địa ngục, âm phủ (đối xứng với hình tâm) là trạng thái chuyển tiếp giữa sông và chết
– – – Minh Vương : Thập điện Minh Vương (10 vua địa phủ)
Thanh Minh có hai nghĩa
– Danh từ : Tết, tiết Thanh Minh
– Động từ : giải thích, biện hộ, làm cho rõ để thoát khỏi một buộc tội
– LỄ LÀ TẢO MỘ, HỘI LÀ ĐẠP THANH
Phong tục Tết Thanh Minh được nói rõ trong Truyện Kiều gồm hai lễ trọng yếu là Tảo mộ và Đạp thanh.
LỄ TẢO MỘ
Công việc chính của tảo mộ là sửa sang các ngôi mộ của tổ tiên cho được sạch sẽ. Nhân ngày Thanh minh, người ta mang theo xẻng, cuốc để đắp lại nấm mồ cho đầy đặn, rẫy hết cỏ dại và những cây hoang mọc trùm lên mộ cũng như tránh không để cho các loài động vật hoang dã như rắn, chuột đào hang, làm tổ mà theo suy nghĩ của họ là có thể phạm tới linh hồn người đã khuất. Sau đó, người tảo mộ thắp vài nén hương, đốt vàng mã hoặc đặt thêm bó hoa cho linh hồn người đã khuất. Bên cạnh những ngôi mộ được trông nom, chăm sóc cẩn thận, còn có những ngôi mộ vô chủ, không người thăm viếng. Những người đi viếng mộ thường cũng cắm cho các ngôi mộ này một nén hương.
Trong ngày Thanh minh, khu nghĩa địa trở nên đông đúc và nhộn nhịp. Các cụ già thì lo khấn vái tổ tiên nơi phần mộ. Trẻ em cũng được theo cha mẹ hay ông bà đi tảo mộ, trước là để biết dần những ngôi mộ của gia tiên, sau là để tập cho chúng sự kính trọng tổ tiên qua tục viếng mộ.
Những người quanh năm đi làm ăn xa cũng thường trở về vào dịp này (có thể sớm hơn một, hai ngày vì nhiều lý do khác nhau) để tảo mộ gia tiên và sum họp với gia đình. Cho nên trong buổi sum họp này sẽ có một lễ cúng gia tiên, tương đương như lễ giỗ chung cho những người đã khuất.
HỘI ĐẠP THANH
Trước đây, nam nữ thanh niên cũng nhân dịp này để du xuân nên mới có tên gọi hội đạp thanh (tức giẫm lên cỏ, vì mùa xuân đồng nhiều cỏ non).
Xưa đi, khu mộ của những người trong gia đình và dòng họ hàng thường gần nhau, ngoài cánh đồng rộng không quá xa nơi ở, nên chuyến đi tảo mộ có thể kết hợp với lễ gặp mặt và du xuân, vì rất nhiều người gia đình cùng ra đường đi tảo mộ nên dễ gặp nhau. Đó là cảnh mà Nguyễn Du miêu tả ngay đầu truyện Kiều.
Phong tục tảo mộ trong Tết Thanh Minh nói riêng và tiết Thanh Minh nói chung vẫn còn nhiều người duy trì, nhưng phong tục du xuân cùng tảo mộ trong cùng ngày Tết Thanh Minh thì khó hơn, do không gian mộ phần và thời gian làm việc bây giờ đã rất khác ngày xưa.
“TẢO MỘ” & “ĐẠP THANH” NGHĨA LÀ GÌ ?
Tảo có nghĩa gì ?
– Tảo : một loại sinh vật nguyên sinh dạng mô, được coi là cỏ nước, cùng nhóm với rong rêu, có nhiều loại tảo như tảo lục, tảo biển, tảo hồ ao
– Tảo trong tảo mộ : tảo là cái chổi, hành động quét bằng chổi
– Tảo trong tảo hôn : tảo là sớm, ban sớm, sáng sớm, chưa đủ trưởng thành, chưa đủ tuổi
– Tảo trong tần tảo : thức khuya dạy sớm
– Tảo : ươm tơ, kéo tơ từ kén ra
– Tảo : cây táo
– Tảo : con rệp, con bọ chét
Mộ là nơi chôn người chết, thường được đắp bằng đất, khác với lăng là được xây dựng kiên cố thành cả khu vực rộng và khác với hầm là ở trong lòng đất
Đạp có nghĩa gì ?
– Đạp chân, đạp đất, đạp cỏ
– Đạp mái
– Đạp đổ
Trong bộ đôi “Tảo mộ” – “Đạp thanh”
– “Tảo” và “thanh”, cùng có nghĩa là cỏ, trong bộ đất nước khí lửa với cỏ là đất, thảo là khí, tảo là nước và thanh là lửa.
– “Tảo” và “mộ” là hai chu kỳ ngược nhau, tảo là bắt đầu, sớm và mộ là kết thúc, về già.
– “Tảo” và “đạp” là hai vận hành xoá bỏ, dọn dẹp, để làm lộ ra mặt đất, tảo có tính kim, nhổ cây ra khỏi đất, phân tách cỏ cây ra khỏi mặt đất, đap có tính mộc chồng châp nén cây vào đất
– GẦN XA NÔ NỨC YẾN ANH
“Gần xa nô nức yến anh” : Trong Thanh Minh, có các đám đông và trường tương tác mang tính âm dương, gọi là yến anh.
Yến là chim yến, anh là chim anh, tạo nên cặp đôi yến anh mà yến mang tính nữ, anh mang tính nam. Mùa xuân yến và anh thường bay cả đàn đông ríu rít trên bầu trời.
Yến anh vừa là biểu tượng của cặp đôi nam nữ, đám đông nam nữ, vừa là biểu tượng của trường năng lượng âm dương hỗ trợ cho sự tương tác nam nữ.
Trong mùa xuân, nếu như “thiều quang” là trường năng lượng sóng ánh sáng và âm thanh, thường có màu hồng cam, hồng điều ấm nóng như dạng men tình giúp trăm hoa đua nở, thì “yến anh” là trường năng lượng hạt âm dương, giống như trường hạt neutron trong vật lý vậy.
Yến anh là biểu tượng của trai gái ghép cặp có quan hệ tương tác về tinh thần hoặc thân thể, mang tính tự do phóng khoáng
– cả đám đông nam nữ vui chơi
– một đôi nam nữ không nhất thiết phải là hai người yêu nhau hay hai vợ chồng, quan hệ yến anh rất tự do, phóng khoáng có thể thuần tuý là cảm xúc vui chơi hoặc thân thể tình dục
Bộ biểu tượng âm dương nam nữ chia làm 2 nhóm
– Bộ đôi âm dương đối xứng
– – – Uyên ương : vợ chồng không rời nhau, cả thân thể (tình dục), tinh thần (tình yêu), có thể gồm cả quan hệ nhà cửa và con cái, phân ly uyên ương thì cả hai sẽ chết hoặc con cái sẽ chết
– – – Thanh mai – Trúc mã : Căp đôi trai gái từ bé đã quấn quít bên nhau, những có thể chưa đến mức trai gái yêu đương càng chưa có quan hệ tình dục
– – – Trai anh hùng – Gái thuyền quyền : quan hệ trai gái đối xứng về tinh thần, nhưng có thể gái thuyền quyên không gặp được trai hùng hoặc ngược lại, dẫn đến tình trạng lẻ đôi, hoặc trai anh hùng và gái thuyền quyên yêu nhau mà không lấy được nhau, mỗi người phải đi tiếp trên con đường của mình. Thanh anh hùng – gái thuyền quyên có thể là thanh mai trúc mã phát triển lên, hoặc không. Thanh anh hùng – gái thuyền quyên có thể trở thành uyên ương hoặc không.
– Trường đám đông âm dương
– – – Tài tử, giai nhân : Thiên về tinh thần, sở thích, chuyên môn, nghề nghiệp
– – – Nam thanh, nữ tú : Thiên về thân thể, ngoại hình, tuổi tác
Yến anh là một bộ đôi lưỡng tính kết hợp cả hai nhóm trên
– Yến anh có thể là cặp đôi trai gái có quan hệ tình cảm và tình dục phóng khoáng tự do, đến với nhau, tìm hiểu nhau vì nhu cầu và hoàn cảnh, hôm nay có thể hợp ngày mai có thể tan, từ trái gái ngây thơ đến trai gái làng chơi nhà thổ, từ các cặp ngoại đôi yêu đương sâu sắc, các cặp vợ chồng đến các cặp ngoại tình, mèo mả gà đồng, bắt cá hai ba tay đều có thể là yến anh
– Yến anh có thể là đám đông vui chơi qua đường hoặc yêu đương sâu sắc, thiên về thân thể cũng được hoặc thiên về tinh thần cũng được, nơi chung là đám đông với tất cả các loại tương tác âm dương
– Yến anh có thể là trường năng lượng mang tính tương tác âm dương
Ca dao nói về yến anh
Dưới mặt nước chói lòa yếm đỏ
Trên bầu trời rạng tỏ mây xanh
Từ ngày chia rẽ yến anh
Nước trời còn đó ai đành phụ nhau.
hay
Gió mát trăng thanh, yến anh gặp gỡ,
Thiếp được gặp chàng than thở đôi câu.
Thương nhau đêm nhớ ngày sầu,
Đó đây xa ngái, dạ thiếp rầu héo hon.
Yến anh là biểu tượng về ghép cặp và tương tác âm dương đời thường nhất, phổ biến nhất, rộng mở nhất, pha tạp nhất, đa dạng nhất. Nói cách khác trong trường yến anh có thể phân hóa thành tất cả các dạng cặp đôi và các dạng tương tác âm dương. Bất kỳ ai, chỉ cần qua tuổi dạy thì và có nhu kết bạn, kết đôi nam nữ tình dục hay tinh thần, nông sâu đều có thể trở thành một yến hay một anh, đều có thể gia nhập đàn yến anh này.
Trong Thanh Minh, trường năng lượng nam nữ yến anh rất mạnh và thu hút đám đông nam nữ yến anh tụ tập và tương tác. Khi trường băng lượng càng mạnh thì đám đông nam nữ yến anh càng mạnh và ngược lại khi đám đông nam nữ càng mạnh thì trường năng lượng tương ứng với nó càng mạnh hơn. Đó chính là “gần xa nô nức yến anh”
– CHỊ EM SẮM SỬA BỘ HÀNH CHƠI XUÂN
Mỗi người chúng ta đều có anh chị em cùng dòng máu và anh chị em khác dòng máu nhưng chúng gốc linh hồn
– Anh chị em cùng dòng máu là anh chị em ruột; anh chị em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh chị em họ
– Anh chị em khác dòng máu là anh chị em cùng chung gia đình linh hồn, nhưng khác dòng máu đầu thai
Thanh Minh tạo ra trường năng lương ghép bộ những mảnh “chị em”, “anh em” lại với nhau, để vận hành cùng nhau trong những chu kỳ mới. Đi chơi Thanh Minh, đi chơi Xuân không khác gì đi chợ tình mùa xuân, cái mà chúng ta sắm sửa không phải là đồ mua ngoài chợ, mà là các anh em, chị em bộ hành với chúng ta.
Nguyễn Du không nói về việc anh em ghép bộ mà chỉ có “chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân”. Lý do là người nữ có tính lưỡng nghi, có thể ghép bộ vận hành với nhau, trong khi anh em nam thì có thể biết nhau nhưng vẫn vận hành độc lập.
Trong Truyện Kiều, Kiều ghép bộ vật lý với Thuý Vân và Vương Quan để đi chơi xuân. Đây là bộ chị em cùng dòng máu. Sau lễ Tảo Mộ, Kiều ghép bộ với Đạm Tiên, mà mảnh chung gốc linh hồn với Kiều nhưng khác dòng máu. Kiều và Đạm Tiên là chị em bộ hành không có quan hệ họ hàng máu mủ với nhau, nhưng có quan hệ gia đình hồn.
Sau lễ Đạp Thanh, Kiều ghép bộ với Kim Trọng, là đối xứng nam của Kiều. Đây là bộ anh yêu, em yêu, không phải bộ anh em cũng chẳng phải bộ chị em. Anh yêu em yêu là hai người khác dòng máu nhưng lại có khả năng kết hợp dòng máu khi sinh con đẻ cái.
– DẬP DÌU TÀI TỬ, GIAI NHÂN
Trong đám đông yến anh nô nức, một số cá nhân riêng lẻ đã tìm được người phù hợp để ghép đôi, nên tách đám đông yến anh ra để đi riêng với nhau. Đó là các cặp đôi tài tử, giai nhân dập dìu. Quan hệ yến anh có thể rất rời rạc, như cát; nhưng quan hệ tài tử giai nhân lại rất nhịp nhàng. Dập dìu là trạng thái sóng cảm xúc và song hành âm dương.
“Dập dìu tài tử giai nhân” chính cặp đôi “anh em” hay cặp đôi anh yêu, em yêu, đối xứng với bộ “anh chị em”, giải thích ở trên. Quan hệ tài tử giai nhân phát triển sâu sắc sẽ có tình yêu và tình dục.
– NGỰA XE NHƯ NƯỚC, ÁO QUẦN NHƯ NEN
“Ngựa xe như nước” là gì ?
Một số người cho rằng “ngựa xe như nước, áo quần như nen” là cảnh người đi Tảo mộ và đi hội Đạp thanh. Thực tế, phần lớn người đi Thanh Minh đều đi bộ đến khu mộ gia đình và cũng đi bộ đến chỗ hội. Một số người nhà giàu và đi từ xa đến có thể đi xe, nhưng họ là thiểu số. Bản thân Kiều cũng đi bộ đi Thanh Minh, Kim Trọng cưỡi ngựa nhưng thằng hầu đi theo lại đi bộ và Kim Trọng đi một mình. Tết Thanh Minh với phong tục tảo mộ và đạp thanh là dành cho toàn dân, giả sử nhà Kiều có đủ tiền đi ngựa đi xe thì toàn dân cũng không có nhiều ngựa xe đến mức tạo thành luồng như nước sông đi Tết Thanh Minh được.
Hình dung mộ của dòng họ ngày xưa ở ngay cánh đồng làng, cả gia đình nam nữ giả trẻ cùng nhau đi bộ ra mộ, không ai cần đến ngựa xe. Có những nơi có phong tục chôn trên núi hoặc ở một số địa điểm cách trở sông suối thì phải trèo đèo, lội suối, không thể kéo cả gia đình đi ngựa xe được. Như vậy, dù nhà có điều kiện hay nhà nghèo, dù mộ ở gần hay ở xa, ngựa xe không phải là phương tiện tối ưu để đi tảo mộ và đi du xuân Thanh Minh.
Trong Truyện Kiều hễ cứ có câu nào mà không giải thích được hoặc giải thích không đến nơi đến chốn được là người ta lại bảo rằng Nguyễn Du dùng điển tích và ước lệ. Thế là thay vì hiểu trực tiếp câu thơ của Nguyễn Du muốn nói gì, thì chúng ta lại cố mà hiểu “điển tích” và “ước lệ”. “Ước lệ” là thủ pháp tả cái chuẩn mực, cái cốt lõi của hiện thực, sử dụng lề lối chuẩn mực của phép tả cảnh, ví dụ tả cái nhà phải tả đủ mái, trần, sàn, tường, cửa. “Điển tích” chỉ là sự đúc kết bản chất tích hợp của hiện thực trong một cụm từ hoặc một câu chuyện. “Uớc lệ” không phải là tả sai lệch, tả bịa đặt, tả thái quá lên theo một cái mẫu vay mượn nào đó. “Điển tích” không phải thay đối tượng sống động cần tả thì mang cái mẫu chết cứng đờ nào đó ra. “Ước lệ” hay “điển tích” cũng vẫn chỉ là tả thực, tả hiện thực vậy chúng ta hãy trải nghiệm sâu sắc cái hiện thực được đặc tả bằng ước lệ điển tích ấy thì tự sẽ hiểu được cái ước lệ điển tích ấy là gì. Nếu chúng ta đã không hiểu cái sự thực mà Nguyễn Du mô tả, thì càng viện dẫn thêm nhiều ước lệ, điển tích ra, thì càng mù mờ, rối rắm.
Cái hiện thực mà chúng ta cần hiểu ở đoạn thơ này là Tết Thanh Minh. Thay vì cố hiểu “ước lệ”, “điển tích” ở mãi tận đâu đâu, hãy trải nghiệm sâu sắc một Tết Thanh Minh trong cuộc đời mình. Những câu thơ trong Kiều đều là văn tả thực, không cần giải thích bằng điển tích ước lệ nào cả, bao gồm 12 câu thơ tả cảnh Thanh Minh. Bài toán là có nhiều hiện thực : hiện thực vật lý, hiện thực năng lượng, hiện thực vật chất, hiện thực tinh thần, hiện thực cực đoan, hiện thực toàn diện, hiện thực đa cảnh giới, hiện thực vụn vặt chắp vá…. Toàn bộ 12 câu thơ tả Thanh Minh trong truyện Kiều đều là tả thực, một hiện thực cốt lõi đa cảnh giới, trong đó có cảnh “ngựa xe như nước” này.
Ngựa xe là phương tiện di chuyển xuyên cảnh giới và ở biên giữa các cảnh giới như trần gian và âm giới cũng như thượng giới. Chính vì thế ở các đền, đình, miếu, 2 bên thường thờ 2 con ngựa, một hồng, một trắng và kiệu rước lễ (xe).
“Áo quần như nen” là gì ?
“Nen” là một dạng nan lèn chặt, nén chặt, để đỡ cấu trúc, tạo thành một thể mở rộng nhưng vẫn thống nhất với cấu trúc gốc. Nếu chúng ta làm hàng rào hay giàn để đỡ cây, thì cây vẫn là cây rào vẫn là rào, nhưng nếu chúng ta dùng nen để đỡ cấu trúc, thì nen và cấu trúc ấy hoà thành một hệ thống, như là xương với cơ.
Trong thế giới âm, quần áo bọc lấy thân thể, như các các lớp vía phách hồn. Trong Thanh Minh, mỗi người mặc quần aó đẹp, lại thêm các bộ vía phách hồn được bổ sung các mảnh mới, nhưng khoá chặt với bộ phách vía hồn cũ, tạo nên cảnh “áo quần như nen”.
Có thể nói các luồng vận hành máu và các cấu trúc thân thể được bổ sung và khoá chặt với nhau theo bộ âm dương vào Tết Thanh Minh. Bản chất của mọi Tết đều có cực kỳ nhiều luồng vận hành và lớp cấu trúc được khoá như vậy, chỉ là luồng nào và cấu trúc gì. Với Tết Thanh Minh, thì đó là luồng máu vận hành ngoài cơ thể lý và cấu trúc cơ thể năng lượng ngoài cơ thể vật lý.
– NGỔN NGANG GÒ ĐỐNG KÉO LÊN
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay.
Đây là cảnh tảo mộ.
Gò đống là năng lượng mộ hoặc huyệt mộ mà có năng lượng người âm bên dưới. Các dạng gò đống này xuất hiện rất rõ trong Tết Thanh Minh. Người âm bên dưới các gò đống này đi theo luồng khí đất, mà chính là luồng khí đỡ cỏ mọc trong Tết Thanh Minh đi lên mặt đất, nơi được bao trùm bởi trường cỏ, mà cũng chính là sinh khí đất hay trường phách đất này. Lúc này người âm có mặt ở biên của thế giới âm và dương, một việc mà bình thường không thể xảy ra vì âm dương cách biệt. Người âm nương tựa vào trường cỏ này để tụ tập lại với nhau theo từng gia đình.
Nhờ có sự tương tác âm dương, người âm lúc này trở nên tỉnh táo, nhớ được nhiều ký ức khi còn sống và qua đó nhận ra nhau. Một số người âm tỉnh táo còn thể nhận ra người dương đang đi tảo mộ cũng xuất hiện trong trường cỏ đó.
Người âm được thu hút đến với nhau bởi trường dòng máu, nên tập hợp với nhau theo từng nhóm gia đình, dòng họ, quanh mộ của nếu mộ của gia đình dòng họ đặt gần nhau hoặc quanh nơi người đang sống trong gia đình tụ tập làm lễ cúng hoặc ở một điểm huyệt nào đó. Cảnh này rất đầm ấm, nhìn qua y như cảnh tụ họp gia đình bình thường trên bãi cỏ để cùng ăn uống vui chơi. Cảnh này được mô tả rất rõ trong phim hoạt hình Coco.
Đây là một trong những câu của truyện Kiều mà không thể chỉ giải thích bằng hiện thực vật lý và cũng không có điển tích, ước lệ phù hợp nào, nên thường được giải thích qua loa hoặc lửng lơ. Nhưng nếu chúng ta đã được trải nghiệm cảnh gia đình âm (của các gia tiên và người đã mất) và gia đình dương (của những người còn sống) tiếp xúc với nhau trên trường cỏ mộ, trong một dịp Thanh Minh nào đó rồi thì chúng ta sẽ hiểu là Nguyễn Du chỉ đang tả thực một khung cảnh trọng yếu của Thanh Minh mà thôi.
– THOI VÀNG VÓ RẮC, TRO TIỀN GIẤY BAY
Trong ngày Thanh Minh, các luồng vận hành ngựa xe xuyên cảnh giới này trở nên cực kỳ đông. Cho nên trong các dip lễ Tết, người dân đốt vàng mã là để cầu mong các cấu trúc và luồng vận hành xuyên cảnh giới này được thông suốt.
“Vàng vó” và “tiền giấy” là gì ? Là hai loại vàng mã cơ bản, thường được sử dụng khi cúng lễ (đám tang, đám ma, tảo mộ, các lễ cúng tại đình, đền, miếu …).
– Loại thứ nhất là vàng mã mở luồng vận hành/dòng thời gian. “Vàng vó” là loại vàng mã mở luồng, với “vó” là vó ngựa. “Vàng vó” là vàng mã ứng với chữ “mã” trong từ “vàng mã”. “Vàng vó” có thể có là ngựa giấy, thuyền giấy hoặc có hình dáng khác, như hình hộp hay hình thoi. “Vàng vó” có thể được thả xuống nước (thuyền), đốt (ngựa) hoặc thả, rắc, rải dọc đường đi của đoàn lễ (thoi vàng vó rải dọc đường của đoàn đưa tang), tuỳ luồng vận hành cần thông suốt là luồng nước, luồng lửa, hay luồn khí. “Vàng vó” có thể được thay bằng nước tự nhiên hoặc nước thiêng lấy ở đình đền, được rải trên đất, được tưới xuống ao hồ, được cho bay hơi …
– Loại thứ hai là vàng mã mở cổng không gian/trường năng lượng (tro tiền giấy). “Tiền giấy” là loại vàng mã mở cổng không gian. “Tiền giấy” chính là tiền vàng, ứng với chữ “vàng” trong từ “vàng mã”. Tiền giấy có thể có hình tiền hoặc là xấp giấy in hình xu vàng, đinh đỏ. Có một số lễ người ta dùng tiền giấy vàng mã hoặc tiền lẻ thật, rải theo đoàn hành lễ, hoặc ném tiền giấy, tiền lẻ thật vào là ngựa xe vàng vó.
“Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay” là cảnh người đi tảo mộ rắc các tho vàng vó, và đốt tiền giấy thành tro, khiến cho các thoi vàng vó tạo thành các vệt trên đường đất và tro tiền giấy bay trên trời.
Vậy cả hai câu tả cảnh tảo mộ
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay.
Câu đầu là tả cảnh người âm đi lên để tương tác với người dương và thế giới dương, câu sau là tả cảnh người dương đốt vàng mã hướng về người âm, hỗ trợ luồng vận hành và cấu trúc không gian cho người âm trụ lại được trong buổi lễ.
