![]()
Phách vía hồn là cách mà dân gian Việt nói về ba thể năng lượng của con người.

PHÁCH
– PHÁCH (Danh từ)
Thể phách
– – Ba phách
– – – Thượng phách
– – – Trung phách
– – – Hạ phách
– – Bảy phách
Hồn phách
Mỗi người một phách
– PHÁCH (danh từ)
Khí phách : khí phách anh hùng
– PHÁCH (danh từ)
Cự phách : Tay cự phách
– PHÁCH (động từ)
Phách tán
Phách lạc
– PHÁCH (động từ)
Làm phách
Nói phách : làm bộ, khoác lác
– PHÁCH (tính từ)
Phách lối
– PHÁCH (Danh từ)
Phách (vật lý) là chu kỳ biến đổi biên độ của dao động tổng hợp khi cộng hai dao động tần số gần bằng nhau.
Phách (âm nhạc) là chu kỳ thời gian được tính bằng một lần đập nhịp (nhấc lên và đánh xuống). Phách (beat) trong âm nhạc là các đơn vị thời gian đều nhau chia nhỏ ô nhịp. Phách bao gồm phách mạnh và phách nhẹ, giúp định hình nhịp điệu, phách mạnh thường nằm ở đầu ô nhịp, giúp phân biệt loại nhịp. Nó tạo ra nhịp điệu (nhịp 2/4, 3/4, 4/4…). Phách giúp người chơi nhạc giữ nhịp đều, nhấn nhá đúng câu hát.
– – – Phách đơn
– – – Phách 2 lá (phách đôi) : theo truyền thống, phách nổi bật được gọi là el macho (“nam”) và phách nghỉ được gọi là la hembra (“nữ”). Thuật ngữ này được sử dụng ở phương Tây về phách gỗ. Một nhịp có thể đạt được trên các thanh phách bằng cách giữ
– PHÁCH (Danh từ)
Phách là nhạc cụ gõ giữ nhịp. Từ xưa người ta dùng hai thanh tre hoặc gỗ đập chéo vào nhau thành tiếng chan chát. Phách có nhiều loại và tên gọi khác nhau.
– – Tên gọi phách
– – – Trong hát xẩm phách gọi phách là cặp kè;
– – – Trong cải lương và dàn nhạc tài tử phách là song lang;
– – – Trong ca Huế phách là sênh (sênh tiền).
– – Các loại phách
– – – Phách bản (tiếng Trung: 拍板; bính âm: pāibǎn) là một loại phách làm từ một vài miếng phẳng của gỗ hoặc tre. Có nhiều loại phách bản khác nhau, và nhạc cụ này còn được gọi tắt là bản (tiếng Trung: 板; bính âm: bǎn) bao gồm đàn bản (檀板, nghĩa đen là “phách đàn hương”), mộc bản (木板), nghĩa đen là “phách gỗ”), hoặc thư bản (书板).
– – – Cao Đài có loại phách gọi là “nhịp sanh”. Nhịp sanh được làm từ gỗ trắc hay cẩm lai và có một mặt phẳng và một mặt mô. Nhịp sanh tường dùng để nhịp cho dàn “đồng nhi” đọc hay nhịp cho “ban nhạc lễ” để được đồng nhất với nhau. Nhịp sanh khó sử dụng hơn hết vì cần phải có kĩ thuật cầm, cầm không đúng cách tiếng sẽ không vang và thanh.
– PHÁCH (Động từ)
Đánh phách : đánh trống đánh phách
Gõ phách
Đánh trống đánh phách
– PHÁCH
Phách ba : Mái chèo từ thứ ba. Theo http://tapchisonghuong.com.vn/…/Ban-khoan-vi-mot-cau-ho… : Mỗi chiếc đò dọc thường trang bị tối đa sáu cây chèo. Từ mũi thuyền, lần lượt chèo thứ nhất bên phải là phách một, chèo thứ hai bên trái là phách hai, chèo thứ ba bên phải là phách ba, chèo thứ tư bên trái là phách bốn. Cuối thuyền, chèo thứ năm bên phải là đốc, chèo thứ sáu bên trái là lái. Tùy theo tình huống mà người ta sử dụng bao nhiêu cây chèo. Thuận nước thuận gió, chỉ cần phách một và lái. Ngược nước ngược gió, nhất là tình huống khẩn trương, người ta sử dụng cả sáu tay chèo.
– PHÁCH (Danh từ)
Phách giấy thi
– PHÁCH (Động từ)
Rọc phách
Làm phách
– PHÁCH (Danh từ)
Hổ phách là nhựa cây hóa đá (hóa thạch)
Phách của người được cho là gắn với máu, là tinh huyết, còn phách của cây được cho là gắn với nhựa cây, mà chính là máu của cây.
– PHÁCH (danh từ)
Cây hoàng phách (loài cây cao rụng lá, cành có thể làm thuốc nhuộm vàng, vỏ cây làm thuốc)
Ba phách trong sách của Barbara Anne Brennan
– Thượng phách
– Trung phách
– Hạ phách
Bảy phách được mô tả trong Đạo Tàng (道藏), sách Vân Cập Thất Thiêm (云芨七籖) có hình dạng của những con vật kỳ quái bao gồm:
– Thi cẩu (尸 狗). Chức năng cảnh giác. Khi phách này hoạt động quá mức, con người bồn chồn và thức dậy quá dễ dàng. Nếu nó yếu, bạn sẽ ngủ như một con chó chết, mù lòa trước mọi nguy hiểm. Phách này liên quan đến cảm xúc Hỉ (vui)
– Phục Thỉ (伏 矢). Chức năng tiêu hóa. Phách này kiểm soát quá trình tiêu hóa khi bạn ngủ. Nếu bạn ăn trước khi ngủ và thức dậy đói, Phục Thỉ của bạn có lợi cho sức khỏe. Nếu thức dậy mà không có cảm giác thèm ăn hoặc hơi thở rất hôi, bạn có thể có vấn đề với phách này. Phách này liên quan đến Nộ (tức giận)
– Tước Âm (雀 阴). Chức năng: khả năng tình dục, sinh sản. Sức khỏe của phách này quyết định một người cần bao lâu để phục hồi khả năng tình dục ngay sau khi sinh hoạt tình dục. Tổn thương phách này dẫn đến rối loạn chức năng tình dục. Liên quan đến Ái (yêu)
– Thôn Tặc (吞 贼). Chức năng: chống lại các mầm bệnh bên ngoài. Phách này tương tự như khái niệm hiện đại về chức năng miễn dịch. Liên quan đến Ố (thù ghét).
– Phi Độc (飞 毒). Chức năng: quản chế cảm giác nóng lạnh (tim). Phách này điều hòa nhiệt độ cơ thể bằng cách phân tán các vùng quá nhiệt và quá lạnh trên cơ thể. Nếu phách này bị thương, người ta sẽ cảm thấy ớn lạnh hoặc đổ mồ hôi ban đêm. Liên quan đến Ai (buồn lo).
– Trừ Uế (除 秽). Chức năng: xử lý. Phách này loại bỏ chất độc ra khỏi cơ thể qua nước tiểu và phân. Khi trẻ em tè ướt giường, hoặc khi người lớn thức dậy thường xuyên đi tiểu là do phách này yếu. Liên quan đến cảm xúc Cụ (惧 – sợ).
– Xú phế (臭 肺). Chức năng: điều hòa nhịp thở, hô hấp. Ngáy và ngưng thở khi ngủ là dấu hiệu cho thấy phách này của không được khỏe mạnh. Liên quan đến Dục (các ham muốn).
– PHÁCH TRONG CA DAO
– đánh trống đánh phách
Thằng Cuội ngồi gốc cây đa
Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời.
Cha còn cắt cỏ trên trời,
Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên.
Ông thì cầm bút, cầm nghiên,
Ông thì cầm tiền đi chuộc lá đa.
Thằng Cuội chết tối hôm qua
Đánh trống đánh phách đưa ma ra đồng
– đánh trống đánh phách
Kể chuyện ông huyện về quê
Có hai hòn ngọc kéo lê dọc đàng
Bà huyện cứ tưởng hòn vàng
Đánh trống đánh phách cả làng ra khênh
– anh thì cầm lái cô mình phách ba
Đêm trăng thắp ngọn đèn lồng
Mình về có nhớ ta không hỡi mình?
Chiếc thuyền anh giậm thình thình
Anh thì cầm lái, cô mình phách ba
Có thương anh, em bẻ mái chèo ra
Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời
– anh thì cầm lái cô mình phách ba
Dì thằng cu như cánh hoa nhài
Ba mươi sáu cánh tiếc tài nở đêm
Sáng trăng trong sáng cả ngoài thềm
Lại đây ta chắp áo mền đắp chung
Đêm đông thắp ngọn đèn lồng
Mình về có nhớ ta không hỡi mình
Chiếc thuyền nan anh giậm thình thình
Anh thì cầm lái cô mình phách ba
Có thương anh bẻ mái chèo ra
Sợ mẹ bằng biển sợ cha bằng trời
Anh thấy em anh cũng ưa đời
Biết rằng chốn cũ có rời ra chăng.
—o—o—o—
VÍA
– VÍA (danh từ)
Thể vía
Bảy vía còn ba
Chín vía
Nam bảy vía, nữ chín vía : Khi người chết, các phách sẽ tiêu tán dần, mỗi phách vía mất 7 ngày, vị chi 49 ngày. Tuy người Việt có quan điểm phụ nữ có 9 vía, nhưng bất kể người chết là nam hay nữ, thì vẫn giữ mốc 49 ngày.
– VÍA
Vía nam, vía nữ
Vía dữ, vía lành
Vía trời, vía đất
Vía nặng vía nhẹ,
Vía tốt vía xấu
Vía Phật
Vía Bà
Vía Ông
Vía Thần tài
– VÍA (danh từ, bộ phách vía hồn)
Hồn vía
Ba hồn bảy vía : Gọi ba hồn bảy vía
Ba hồn chín vía
– VÍA (động từ)
Kinh hồn bạt vía
Xiêu hồn bạt vía
Hồn siêu phách lạc
Hồn bay phách tán
Hồn vía lên mây
– VÍA (động từ)
Đốt vía : Nếu nghĩ là có ai đó nặng vía, dữ vía vừa ám mình (ví dụ người hỏi mà không mua hàng) thì người ta đốt lửa (đốt vía) cho tan đi.
Xin vía : Xin sự may mắn đi theo vía từ người khác
Nhả vía : Trao sự may mắn đi theo vía của mình cho người
Trộm vía : Xin phép vía của người khác, xin khéo các vía trước khi khen trẻ nhỏ.
Phải vía : Trẻ sơ sinh phải vía quấy khóc
Gọi vía : Gọi vía bị mất đi do sợ hãi, thất kinh, khiếp đảm
Chuộc vía mà bị ám hay bắt giữ
Giữ vía để cầu an, tăng trưởng thọ mạng,
Mất vía
Sát vía
Bạt vía
Hú vía
Át vía
Ám vía
Khiếp vía
– VÍA
Bóng vía : người yếu bóng vía
– VÍA (động từ)
Vía lên mây
– VÍA (tính từ)
Ngày vía
– – Ngày vía của mẹ Quán Âm
– – – Ngày 19 tháng 02 âm lịch chính là ngày mẹ Quan Thế Âm Đảng Sinh
– – – Ngày 19 tháng 09 âm lịch là ngày mẹ Quan Thế Âm xuất gia
– – Ngày vía của Phật Thích Ca
– – -Ngày 19 tháng 06 âm lịch là ngày mẹ Quan Thế Âm thành đạo
– – – Ngày 8 tháng 04 Vía Phật Thích Ca đản sinh
– – – Ngày 8 tháng 02 Vía Phật Thích Ca xuất gia
– – – Ngày 15 tháng 02 Vía Phật Thích Ca nhập diệt
– – Ngày vía Di lịch mùng 1 tháng Giêng
– – Ngày vía Thần tài
– – Ngày vía Trời, ngày vía Đất : ngày mồng 9 mồng 10 tháng Giêng
– VÍA TRONG CA DAO
– bảy vía
Khoe anh lắm khéo, lắm khôn
Qua cửa nhà lồn bảy vía, còn ba
– bảy vía còn ba
Tổ cha thằng bố cu gồ
Làm cho tao phải dọn đồ xuống ao
Giường thờ thì ngâm xuống ao
Lại bắt ông vải chui vào bụi năn
Vợ chồng nói chuyện thì thầm
Đêm ngày cắp bị ra nằm cồn Me
Nằm thì lắng tai mà nghe
Nó đang đốt ở ngoài nghè Phú Vinh
Súng thì nó bắn ình ình
Mẹ con giật mình lại phải chạy xa
Sớm mai nó đốt Mỹ Đà
Cửa nhà tan nát, vại cà sạch không
Bấy giờ vợ mới biểu chồng
“Thôi thôi ta phải dốc lòng xin đi”
Chồng thì nó bắt cu li
Vợ thì mặt bủng da chì mà lo
Chẳng qua đến lúc mạt đồ
Nước Nam có đám sao cờ mọc ra
Triều đình bảy vía còn ba
Quân Tây vừa dọa đái ra đầy quần
Cho nên mới khổ đến dân
Tổ tiên cũng bị muôn phần lao đao.
– ba hồn chín vía
Người thì chẳng đáng hòn chì
Ba hồn chín vía đòi đi võng đào
– vía trời, vía đất
Mùng chín vía trời, mùng mười vía đất
– dữ vía
Làm đĩ chẳng đắt mắng đếch không thiêng,
Mắng con láng giềng sao mày dữ vía
– vía Bà
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ kinh Vĩnh Tế, vía Bà núi Sam
– Vía Quan Công
Trà Vinh có bún nước lèo
Có chùa Ông Mẹt, ao đào Bà Om
Có đình thờ vía Quan Công
Ðền thần Hiếu Tử thờ Trần Trung Tiên.
– mất vía
Bò đen húc lẫn bò vàng
Bò trắng mất vía nhảy quàng xuống ao
– mất vía
Đố ai nêu lá quốc kì
Mê Linh đất cũ còn ghi muôn đời
Yếm, khăn đội đá vá trời
Giặc Tô mất vía rụng rời thoát thân?
Là ai?
– mất vía
Đêm qua lặn lội vượt đồng
Gánh gạo cho chồng, mặc súng nổ vang
Chồng em đánh giặc tỉnh Nam
Thực dân mất vía, Việt gian kinh hồn
Em về nuôi cái cùng con
Cho chồng rong ruổi nước non diệt thù
– mất vía
Thân em làm lẽ chẳng hề
Có như chính thất mà lê giữa giường
Tối tối chị giữ mất buồng
Chị cho manh chiếu nằm suông chuồng bò
Mong chồng, chồng chẳng xuống cho
Ðến khi chồng xuống, gà đã o o gáy dồn
Chém cha con gà kia, sao mày vội gáy dồn?
Mày cho tao mất vía kinh hồn về nỗi chồng con!
– bạt vía
Nam mô đại tướng Thuyền Quan,
Mũ ni, tích trượng, phướn phan thay cờ.
Bình Tây kiến lập vệ cơ,
Nghĩa quân khắp chốn đi về sớm hôm.
Chùa làm kho súng bên đồn,
Lăng Sa bạt vía, kinh hồn Thuyền Quan.
– hết vía
Năm quan tiền tốt bó mo
Làm tờ kí chỉ, chị cho chuộc chồng
Măng non nấu với gà đồng
Chơi nhau một trận xem chồng về ai?
Già gan cướp được chồng người
Non gan hết vía rụng rời chân tay.
Măng trúc nấu với gà mai
Chơi nhau một trận, về ai thì về.
– kinh hồn bạt vía
Eo lưng thắt đáy ngậm trái hồ lô
Mở miệng ra kinh hồn bạt vía
Là gì?
– hồn vía lên mây
Chửa đánh được người mày xanh mặt tía,
Đánh được người hồn vía lên mây
– mất vía kinh hồn
Đêm qua lặn lội vượt đồng
Gánh gạo cho chồng, mặc súng nổ vang
Chồng em đánh giặc tỉnh Nam
Thực dân mất vía, Việt gian kinh hồn
Em về nuôi cái cùng con
Cho chồng rong ruổi nước non diệt thù
—o—o—o—
HỒN
– HỒN (danh từ) : hồn của cái gì đó, đối tượng nào đó
hồn quê
hồn nước
hồn đất
hồn Việt
hồn hoa
hồn cây
hồn bướm : hồn bướm mơ tiên
hồn người
– – – linh hồn
– – – tâm hồn
– – – hương hồn
– – – xác hồn
– – – hồn vía
– – – hồn trí
– – – hồn phách
hồn ma :
– – – vong hồn
– – – oan hồn
– – – u hồn
– – – cô hồn : cúng cô hồn
– HỒN (danh từ) : hồn có bản chất hay tính chất gì đó
tâm hồn
linh hồn
– – – linh hồn sinh đôi
trí hồn
thần hồn : thần hồn nát thần tính
xác hồn
phách hồn
vía hồn
hương hồn
lửa hồn
âm hồn >< tượng hồn
vong hồn
oan hồn
u hồn
cô hồn
– HỒN (tính từ)
có hồn
– HỒN (tính từ)
hú hồn
hết hồn
mất hồn
khiếp hồn
liệu hồn
– HỒN (động từ)
nhập hồn
mượn hồn
nguyện hồn
cầu hồn
gọi hồn
cúng hồn : cúng cô hồn
thổi hồn
– HỒN (động từ)
hồn siêu phách tán
hồn bay phách tán
hồn vía lên mây
hồn lìa khỏi xác
hồn thoát xác
hồn nhập xác
– HỒN
Ba hồn bảy vía
– Thượng hồn
– Trung hồn
– Hạ hồn
Ba hồn bảy phách : Sau khi người ta chết, lúc đầu 7 phách sẽ tiêu tán cùng thân xác, sau đó 3 hồn sẽ bay đi.
– Phách hồn
– Vía hồn
– Trí hồn
Tam hồn thất phách :
– Sinh hồn
– Giác hồn
– Chủ hồn
Ba hồn được cho là trú trong gan (có người cho là ở trong tam tiêu) và có hình dạng của ba người đàn ông, bao gồm:
– U Tinh (幽 精) – hồn này quyết định sự hấp dẫn và xu hướng tình dục. Khi trái tim của một người tan vỡ và mất hứng thú với thế giới xung quanh, đó là do hồn này bị thương. U Tinh rời khỏi cơ thể thường xuyên, đến thăm những người, địa điểm hoặc những thứ mà nó bị thu hút. Nếu hồn này quá mạnh sẽ dẫn đến tình trạng u mê, mê muội.
– Thai Quang (胎 光) – hồn này là sinh lực trong cơ thể, là tia sáng của sự sống.
– Sảng Linh (爽 灵) – hồn này quyết định khả năng trí tuệ của một người. Khuyết tật trí tuệ là do hồn này mất mát hoặc thương tật. Hồn này được cho là sẽ rời khỏi cơ thể vào ban đêm, gây ra hiện tượng mơ. Nó thỉnh thoảng tan biến theo tuổi già.
Người ta cho rằng
– U Tinh : Sinh hồn (Sinh hồn là chủ tể của sự sống, đại biểu cho nguồn sinh mệnh, có thể tùy hoàn cảnh sinh ra phản ứng, thực vật chỉ có sinh hồn)
– Sảng Linh : Giác hồn (Giác hồn (thức hồn) là chủ tể của ý thức, đại biểu cho bản thân, có thể suy nghĩ, cảm thụ và ký ức, động vật có sinh hồn và giác hồn)
– Thai Quang : Chủ hồn (Chủ hồn là chủ tể của linh tính, đại biểu cho trí tuệ, có thể phân biệt thiện ác, thông hiểu vạn vật, tình cảm, chỉ có người mới có đầy đủ sinh hồn, giác hồn, chủ hồn)
– HỒN TRONG CA DAO
– hồn
Anh đau tương tư nằm trên bộ vạc
Hồn anh thất lạc xuống dưới Diêm đình
Ông vua phán quở: Anh vì tình thác oan
Em ơi, một mai anh chết, em đừng có đến để tang
Bởi tại nơi em mà thiên hạ luận bàn.
– oan hồn
Dầu em có xuống suối vàng
Oan hồn em cũng theo chàng báo oan
– oan hồn
Em là con gái tỉnh Nam
Chạy tàu vượt biển ra làm Cửa Ông
Từ khi mới mở Cửa Ông
Đi làm thì ít, đi rông thì nhiều
Chị em cực nhục trăm điều
Trước làm một lượt đã trèo cầu thang
Đặt mình chưa ấm chỗ nằm
Đã lại còi tầm hú gọi ra đi
Dế kêu, suối chảy rầm rì
Bắt cô trói cột não nề ngân nga
Đoàn người hay quỷ hay ma
Tay mai, tay cuốc, sương sa mịt mù
Hai bên gió núi ù ù
Tưởng oan hồn của dân phu hiện về.
– linh hồn
Tiếng anh ăn học cựu trào
Chị dâu té giếng, anh nắm chỗ nào kéo lên?
– Nắm đầu thì sợ tội trời
Nắm ngang khúc giữa sợ lời thế gian
Giếng sâu anh phải thông thang
Kéo chị dâu lên đặng kẻo chết oan linh hồn
– hồn vía lên mây
Chửa đánh được người mày xanh mặt tía,
Đánh được người hồn vía lên mây
– ba hồn chín vía
Người thì chẳng đáng hòn chì
Ba hồn chín vía đòi đi võng đào
– ba hồn chín vía
Người thì chẳng đáng hòn chì
Ba hồn chín vía đòi đi võng đào
– hết hồn
Ngó ra Phú Quốc, ngó lại Côn Nôn
Gió rao rao sóng bủa hết hồn
Bền gan sắc đá trừ phồn tà gian
– hết hồn
Ò e Rô Be đánh đu
Tặc Giăng nhảy dù
Giô Rô bắn súng
Bắn ngay con ma nào đây
Thằng Tây hết hồn
Thằn lằn cụt đuôi
– kinh hồn bạt vía
Eo lưng thắt đáy ngậm trái hồ lô
Mở miệng ra kinh hồn bạt vía
Là gì?
– mất vía kinh hồn
Thân em làm lẽ chẳng hề
Có như chính thất mà lê giữa giường
Tối tối chị giữ mất buồng
Chị cho manh chiếu nằm suông chuồng bò
Mong chồng, chồng chẳng xuống cho
Ðến khi chồng xuống, gà đã o o gáy dồn
Chém cha con gà kia, sao mày vội gáy dồn?
Mày cho tao mất vía kinh hồn về nỗi chồng con!
– phần xác phần hồn
Bao phen biển tiến biển lui,
Chúa thiêng quan giỏi đứng ngồi nơi đâu,
Biết bao nông nỗi buồn đau,
Nào ai tế độ siêu cầu cho ai?
Ở ăn chưa kịp yên vui,
Chúa quan đâu đã đứng ngồi ngay bên,
Muôn vàn đóng góp không tên,
Rằng cho phần xác phần hồn thảnh thơi!
Thăng Long hoài cổ của Bà huyện Thanh Quan
Tạo hoá gây chi cuộc hý trường
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn chau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường
—o—o—o—
HỒN PHÁCH VÍA TRONG CÁC VĂN BẢN
www.cadao.me : Ba hồn chín vía Quan niệm dân gian cho rằng người có ba hồn, nam có bảy vía và nữ có chín vía. Ba hồn gồm: Tinh (sự tinh anh trong nhận thức), Khí (năng lượng làm cho cơ thể hoạt động) và Thần (thần thái của sự sống). Bảy vía ở đàn ông cai quản hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng. Chín vía ở nữ giới cai quản bảy thứ như ở nam giới cộng thêm hai vía ở lỗ vú và lỗ sinh dục để đẻ và nuôi con.
Nguyễn Văn Huyên (Sự đầu thai của các linh hồn và lễ xá tội vong nhân của ng Việt): “Theo tín ngưỡng của người Việt, thì con người có hai nhóm linh hồn: ba hồn và bảy phách hay vía. Đàn bà có nhiều hơn đàn ông hai phách… Tuy nhiên mọi người không phân biệt thật rạch ròi hai loại linh hồn này. Nhưng dù sao, hồn là chỉ các linh hồn tinh thần, còn vía là chỉ những linh hồn vật chất. Hồn thiêng hơn vía… Vía có thể gây hại. Vía có những tính chất khác nhau tùy theo người có vía: tốt và lành, xấu và dữ. Cái chết là do hồn vía bỏ đi. Những hồn vía này rời khỏi thân thể lúc con người trút hơi thở cuối cùng.“
Đào Duy Anh (VN Văn hóa sử cương): “… người ta sống là nhờ hồn phách phụ vào thân thể. Hồn là cái linh phụ vào phần khí của người, là phần kinh thanh, người ta chết thì bay lên không; còn phách là cái linh phụ vào phần hình của người, là phần trọng trọc, khi người ta chết thì tiêu xuống đất. Đàn ông có ba hồn phụ vào tam tiêu, và bảy phách (vía) phụ vào thất khiếu, đàn bà thì có chín phách (vía) phụ vào cửu khiếu. Thất khiếu là 2 mắt, 2 tai, 2 mũi, miệng, cửu khiếu thêm hậu môn và sinh thực khí.”
Leopold Cadiere (Tôn giáo người Việt): “Theo tín ngưỡng người Việt, con người sống được là nhờ những nguyên lý sự sống thượng đẳng, đó là hồn, gồm có ba; và nhờ vào những nguyên lý sự sống hạ đẳng, đó là vía. Đàn ông thì có bảy vía, phụ nữ thì có chín vía. Ngày nay người ta giải thích ba nguyên lý sự sống thượng đẳng bằng cách quy vào sinh hồn, giác hồn và thần hồn…”
Trần Ngọc Thêm (Cơ sở Văn hóa Việt Nam): “Người Việt và một vài dân tộc ĐNA còn tách linh hồn thành ra hồn và vía. Người Việt cho rằng con người có 3 hồn, nhưng vía thì nam có 7, còn nữ có 9. Hồn vía chẳng qua chỉ là sản phẩm của trí tuệ bình dân với những con số ước lệ 3-7-9 quen thuộc. Dần dần người sau tìm cách giải thích ý nghĩa của những con số này. Ba hồn…gồm tinh, khí và thần. Vía là khái niệm trung gian giữa xác cụ thể và hồn trừu tượng, là cái làm hoạt động các quan năng – những nơi cơ thể tiếp xúc với môi trường xung quanh. Đàn ông có 7 vía cai quản 2 tai, 2 mắt, hai lỗ mũi và miệng. Phụ nữ thêm 2 vía cai quản nơi sinh đẻ và cho con bú.”
Sách Thái Ất Kim Hoa Tông Chỉ của Lã Động Tân được Thế Trường dịch ra tiếng Việt và xuất bản năm 1999 với tựa Phép luyện công của Lã Động Tân.
– Hồn được dịch là animus
– Phách là anima.
Thông thiên học
– Phách dịch là etheric
– Hồn dịch là soul, atma
– Vía dịch là astral body
Sách của Barbara Anne Brennan
– Hồn : Mental body
– Phách : Etheric body
– Via : Emotional body

Có thể tạm chia một người thành hai phần : Phần hồn và phần xác. Phần hồn, đối xứng với xác nếu nói đầy đủ là cả bộ phách, vía, hồn (ví dụ như hình minh hoạ từ Hands of Light của Barbara Anne Brennan).
Có nhiều cách hiểu về bộ hồn xác
– Xác là cơ thể vật lý, hồn là các thể năng lượng bao gồm cả bộ phách cảm trí.
– Xác là cơ thể sinh học, nghĩa là bao gồm bộ hạ thể (biên dạng người), và bồn là bộ trung và thượng thể (biên dạng cầu)
Có nhiều cách hiểu về bộ vía phách như cách nói bên trên
– Phách là bộ thể điện từ, hoặc chỉ là bộ hạ thể hình người, hoặc là toàn bộ thể năng lượng thượng trung hạ
– Vía là bộ thể sóng, hoặc chỉ là bộ trung thể nửa người nửa cầu, hoặc là toàn bộ các thể (7 vía nam, 9 vía nữ)
Tại sao lại có nhiều cách hiểu như vậy ? Vì cấu trúc và vận hành của các thể năng lượng thay đổi
– theo di truyền, ví dụ có di truyền dòng họ bộ phách yếu dễ vỡ và tách khỏi vía, hoặc tách khỏi xác …
– theo các trải nghiệm sống,
– theo các chu kỳ sống, như ngày đêm, sinh tử, sinh sản …
– theo các chu kỳ của Trái đất
– theo sự trưởng thành của mỗi con người
Khi sinh ra thì hồn nhập xác, khi chết đi hồn tách xác (hồn lìa khỏi xác).
– Khi mới sinh, hồn nhập xác, nhưng không có sự kết nối chặt chẽ để điều khiển hoàn toàn được xác, xác nhiều lúc còn đơ. Đây là trạng thái phôi bào
– Khi mới mất, hồn tách xác, nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc còn phải thấu hiểu và giải quyết nên chưa siêu thoát được. Đây là trạng thái hồn ma, mà rất giống trạng thái phôi bào.
– Trong cuộc đời, có những trải nghiệm dạng cận tử thì hồn cũng thoát ra khỏi xác, rồi lại nhập trở lại. Ma có thể tạm hiểu là hồn tách khỏi xác nhưng vẫn có những trải nghiệm y như còn xác.
Trong cuộc đời, có những trải nghiệm mà hồn và xác đều có rất nhiều thay đổi, có điều các thay đổi về hồn vía phách không quan sát được, không được nhận thức đúng đắn, dù có thể để lại các hậu quả rất nghiêm trọng
– Về vận hành vi tế, lúc thức và lúc ngủ, trong những cao trào thân thể và xúc cảm, sự liên kết giữa các thể đều thay đổi rất nhiều, một số trải nghiệm làm các thể tách ra, một số trải nghiệm làm cho các thể liên kết siêu chặt chẽ
– Lúc sơ sinh, các thể hồn mới hình thành, chưa liên kết mạnh mẽ với xác và cả hồn và xác phải dựa vào cha mẹ và ngươi chăm sóc về cả cấu trúc và vận hành, cho đến lúc dứt căn.
– Trong thai kỳ, cả thể xác, phách, hồn, vía của người mẹ đều thay đổi lớn
—o—o—o—
HỒN, VÍA, PHÁCH TRONG KIỀU
– PHÁCH
Thác là thể phách, còn là tinh anh”
– HỒN
“Cạn lời hồn dứt máu say”(757): hồn dứt là ngất đi (chết ngất), máu say là máu xông lên đầu khiến người ta say, mê – đau đớn ly biệt với chàng Kim;
“Mụ thì cầm cập mặt nhìn hồn bay” (990) nói về Tú Bà, sợ quá mà mất hồn, mất vía;
“Tôi đà phách lạc hồn bay” (1651) nói về cảnh Kiều bị Hoạn Thư hành hạ ;
“Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai” (1715) – nói về giấc mộng kê vàng bởi theo Chẩm trung ký, Lư Sinh đi thi không đậu, vào quán gặp đạo sỹ Lã Ông đương nấu nồi kê, Lư Sinh than vãn, Lã Ông đưa cho cái gối nằm nghỉ. Lư Sinh chiêm bao thấy mình thi đậu, lấy vợ giàu có làm quan to…chợt tỉnh dậy, nồi kê vẫn chưa chín, Lã Ông cười nói: “Việc đời thì cũng như giấc mộng thôi”, bởi thế mới có giấc mộng hoàng lương;
“Sinh đà phách lạc hồn xiêu” (1823)- vì sợ quá, Thúc Sinh sợ Hoạn Thư đến như vậy, nhưng lúc dụ dỗ Thúy Kiều lấy mình thì lại quả quyết rằng “Đường xa chớ ngại Ngô Lào/Trăm điều hãy cứ trông vào một ta”; đúng là “miệng hùm, gan sứa”;
“Sinh càng nát ruột tan hồn” (1845)- trạng thái đau khổ, vừa thương, vừa sợ của Thúc khi thấy cảnh Thúy Kiều bị hành hạ;
“Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa” (2236): nói về nỗi nhớ quê hương da diết của Kiều;
“Hoạn Thư hồn lạc, phách xiêu” (2363): để diễn tả nỗi sợ mất hồn, mất vía của Hoạn Thư khi bị xử trước tòa khi nhìn thấy cảnh tượng “dưới cờ gươm tuốt nắp ra”, “máu rơi thịt, nát tan tành”. Khiếp đảm đến lúc xuống lỗ. Người ta nói: Nỗi sợ cái chết, khẳng định sự sống rất có lý vì vậy.
“Ai ai trông thấy hồn kinh phách rời”(2390): hồn sợ hãi, vía lìa xa, cũng giống như hồn lạc, phách xiêu trước cảnh xử Bạc Hạnh, Bạc bà; Ưng Khuyển, Sở Khanh, Tú Bà và Mã Giám Sinh;
“Mơ màng phách quế hồn mai” (2711): hồn, phách trong câu này ý nói hồn của Kiều trong lúc mơ màng gặp lại Đạm Tiên;
“Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai”(2796): theo sách Long Thành lục, Triệu Sư Hùng đi chơi núi La Phù (tỉnh Quảng Đông) gặp một người con gái đẹp dẫn vào quán rượu, uống say, nằm ngủ thiếp đi. Sáng dậy thấy mình nằm ngủ dưới gốc cây mai, nghĩ lại chỉ là giấc mộng; Nguyễn Du đã dùng tích này để nói về tâm trạng Kiều khi gia biến và chia tay với Kim Trọng;
“Hồn còn mang nặng lời thề (2833)
Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai” ý nói thân yếu ớt này dù có chết đi nữa cũng mong trả được nghĩa với Kim Trọng;
“Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao”(2836): thường thấy chiêm bao, hồn lìa xác mà gặp người yêu – Hoạn Thư biết Thúc Sinh lấy Kiều làm vợ bé, giận sai đi bắt về. Ưng, Khuyển bắt Kiều, đốt nhà, sẵn thây vô chủ bên sông cũng đem ném vào lửa. Thúc Ông tưởng Kiều chết nên thương xót làm ma. Thúc Sinh về tới khóc than “Thương càng nghĩ, nghĩ càng đau /Dễ ai rấp thảm quạt sầu cho khuây”. Cứ thế “tháng trọn ngày qua”, “sầu dài, ngày ngắn, Đông đà sang Xuân”. Ðến khi “nhớ quê chàng lại tìm đường thăm quê”, tới nhà thì Hoạn Thư cho Kiều ra lạy mừng. Thúc Sinh “phách lạc hồn xiêu”, “giọt ngọc sụt sùi như sa”. Hoạn Thư hỏi, Thúc Sinh trớ rằng “Hiếu phục vừa xong/ Suy lòng trắc dĩ đau lòng chung thiên”
“Nào hồn tinh vệ biết đâu mà lần” (2972) nói về oan hồn của Thúy Kiều gắn với tích xưa kể rằng: con gái vua Viêm Đế chết đuối hóa làm chim tinh vệ, ngày ngày ngâm đá ở núi Tây Sơn về lấp biển Đông cho hả giận;
“Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên” (3202) nói về Vua nước Thục và con chim cuốc. Xưa vua nước Thục là Đỗ Vũ, hiệu là Vọng Đế bị mất nước đã hóa làm con chim cuốc, thường kêu “quốc quốc” nghe rất ai oán như gợi lòng tiếc nước khôn nguôi.


