![]()
TƯ THẾ CỦA SỰ SÙNG TÍN
Lạy Phật là tư thế không chỉ dành cho Phật tử mà là một tư thế mang tính tinh thần cao, biểu đạt sự sùng tín tuyệt đối, hướng đế các đấng
– Đấng sáng tạo
– Thượng đế
– Chúa trời
– Giàng
– Cha trời
– Cha nước (nước trời)
– Thánh Allah
– Thần Mặt trời
– Thần Bầu trời
– Thần Lửa trời
– Huyền Thiên
– Mẹ Quán Âm
– Thiên Mẫu – Mẹ Trời (đối xứng với Cha đất)
– Thánh Mẫu Thiên Y A Na
– Mẹ nước (nước trời đối xứng với mẹ Quán Âm Nam Hải là nước đất)
– Mẹ Ponagar (mẹ Ponagar gồm cả đất và nước, nghĩa là Thánh Mẫu Thiên Y A Na chỉ là một khía cạnh mang tính thiên của mẹ Ponagar)
– Phật
– Phật Thích Ca Mâu Ni
– Chân lý tuyệt đối
– Pháp tối thượng
– Cha mẹ sự sống
Tư thế này chỉ có giá trị khi người thực hành có đức tin chân chính và chân thực, lúc này họ thật sự ở trạng thái “lậy” và “Phật” đại diện của sự toàn giác và chân lý tối thượng, luôn tồn tại trong mọi hiện thực mà họ hướng đến trong tư thế này. Việc này khác hẳn với việc chúng ta đi theo một Đấng nào đó để xin xỏ cái này cái kia, hoặc vì người xung quanh đi theo, gia đình đi theo thì mình cũng đi theo cho có phong trào, Phật lúc này không có giá trị đích thực được nhận thức bởi chính cá nhân Phật tử.
Có những người sùng tín bừa bãi, nên sùng tín sai đối tượng, mê tín dị đoan với đủ loại thầy bà, bất chấp pháp. Có những người không có đức tin nói chung, nên với họ không tồn tại Thượng đế, không tồn tại Chân lý tuyết đối, không có nguồn cội thiêng liêng của mọi sự sống và mục đích của mọi cuộc đời, bao gồm sự sống của chính họ và cuộc đời của chính họ. Có người có sự hoài nghi với cả chính mình và cả thế giới, không phải là họ không tin có các Đấng nhưng họ không tin họ có thể gặp được các Đấng và họ đổ tội cho các Đấng về trạng thái bất toàn của sự sống. Cả ba nhóm đều khó đạt được trạng thái sùng tín tuyệt đối, cho dù không phải là họ không có hạt mầm của sự sùng tín. Tư thế này, sẽ mở ra những ký ức, những trải nghiệm trên cả ba khía cạnh này trong mỗi người, để họ mở ra trạng thái sùng tín đúng đắn, mà luôn có sẵn.
TRUYỀN THỪA
Các trải nghiệm và ký ức liên quan đến tư thế này
– Trải nghiệm nhận
– – – Nhân ân điển
– – – Nhận ban tước
– – – Nhận phong tước
– – – Nhận truyền thừa của các dòng tu thiền
– – – Nhận truyền thừa của các dòng mật tông
– – – Nhận truyền thừa từ tổ của các dòng đạo
– – – Nhận truyền thừa tổ tông
– Các trải nghiệm về nguyện thề
– – – Lời cầu nguyện với các Đấng
– – – Lời thề của người nhận truyền thừa
– – – Lời thề của người nhận tước
– – – Sự cam kết dâng hiến của người nhận ân điển
Tư thế này là kích hoạt các khoá hai chiều, nghĩa có trao và nhận, có mở và đóng, cụ thể
– Người nhận thực ở trong dòng truyền thừa và đã đạt được mức độ nhận truyền thừa của dòng này, thì truyền thừa tự động xảy ra, trực tiếp giữa họ và các sư tổ hoặc các Đấng.
– Người nhận phải thực sự xứng đáng với lời nguyện cầu và ân điển mà họ muốn nhận, thì lúc đó trạng thái nhận sẽ tự động mở.
– Khi người nhận truyền thừa vi phạm đạo đức, vi phạm lời thề, nghĩa là họ không còn xứng đáng thì quá trình nhận truyền thừa tự động bị đảo ngược, bị khoá.
– Trạng thái khoá đóng truyền thừa cũng tự động được kích hoạt khi người nhận truyền thừa ở tình trang bất khả kháng hoặc bị truy đuổi, tấn công kể cả ở trạng thái hôn mê hay bị điều khiển tinh thần vì truyền thừa mà họ nắm giữ.
CÁC LỄ SINH LIÊN QUAN
Lậy Phật là tư thế chuẩn trong tất cả các cũng lễ và tế lễ, đặc biệt là các lễ sinh
– Đứa trẻ sơ sinh được đỡ trong quá trình sinh bởi Cha Mẹ xứ sở
– Đứa trẻ sơ sinh được đón nhận bởi Cha Mẹ xứ sở, sau khi chào đời đủ cả bộ nhau rốn ối, nhưng chưa cắt rốn
– Đứa trẻ sơ sinh được đón nhận bởi gia tiên dòng họ (dòng họ mẹ hoặc dòng họ bố) trong lễ cắt rốn
– Đứa trẻ sơ sinh được đón nhận bởi gia tiên dòng họ (dòng họ mẹ hoặc dòng họ bố) trong lễ cúng nhau, và chôn nhau (hoặc thả nhau xuống nước hoặc làm gì đó với bánh nhau để nhau về thiên nhiên).
– Đứa trẻ sơ sinh được đón nhận bởi cha mẹ xứ sở và gia tiên dòng họ trong lễ đặt tên, thường làm vào lúc một ngày đến ba ngày tuổi. Cá biệt có cha mẹ đợi đến lúc con đến lễ dạ đề mới đặt tên, thì lễ đặt tên là một khoá cực kỳ quan trọng liên quan đến cha mẹ xứ sở và gia tiên dòng họ của đứa trẻ.
TƯ THẾ LẠY PHẬT
Lậy Phật cơ bản là tư thế quỳ lạy. Có 2 dạng quỳ lạy cơ bản
– Quỳ lậy thẳng lưng, cúi đầu thấp, nói cách khác là ngồi quỳ cúi đầu
– Quỳ lậy nằm lưng, cúi đầu thấp, nói cách khác là nằm quỳ cúi đầu
Cổ chân và đầu gối là hai trọng tâm của tư thế lậy Phật.
– Đầu gối cơ bản hướng về phía trước, tượng trưng cho sự gối tiếp, nối tiếp.
– Cổ chân liên quan đến sự chuyển hướng, tượng trưng cho sự lựa chọn đường đạo
Trong cả hai tư thế này, người tập đều ngồi trên gót chân và mắt cá chân trong. Cổ chân tiếp đất hoàn toàn khi mu bàn chân úp xuống đất và mông ngồi lên gót chân. Tối ưu là ngồi hẳn lên gót chân. Mới tập mông có thể nhổm lên không ngồi hẳn lên gót chân được. Tập vững có thể ngồi xuống tận mắt cá chân trong.
Gót chân xoè ra trong khi hai ngón cái chụm lại hoặc chạm vào nhau để khoá tư thế cho mặt phẳng dọc giữa cơ thể, mà trên đó có trán, mũi, ức, rốn và mu.
Đầu gối gập tối đa, càng nhiều càng tốt, hướng thẳng về phía trước hoặc mở nhẹ
Đầu cúi xuống trán mũi chạm sàn, cổ thả lỏng.
Cổ thả lỏng, không được chúc đầu xuống, cương cổ lên.
Trong tư thế này, mở ra hai huyệt trên đầu
– Con mắt thứ ba đưa vào LX56, tuyến yên nằm giữa đầu
– Thóp
Đầu, thân và ngón chân cái nằm trên cùng một mặt phẳng dọc thân



